CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 8 1.1 Các khái niệm và lý thuyết có liên quan 1.Các khái niệm cơ bản 1.Khái niệm cạnh tranh Ngày nay, thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, cạnh tranh có thể được hiểu như sau: Trong Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) có viết : “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất.” Theo định ngĩa này, cạnh tranh nhằm mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách tạo ra sự ganh đua, giành điều kiên thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh. Theo Michael Porter (1996) : “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.” Ngoài ra còn rất nhiều các cách hiểu khác nhau về cạnh tranh, nhưng có thể hiểu chung về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế ( nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân.) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế thương mại khác đẻ thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo M. E Poter (1996): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao”. Michael Poter không bó hẹp quan điểm ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và sản phẩm thay thế.
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì : “Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế”. Theo Nguyễn Bách Khoa (2004) đã định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp với các khả năng và các nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó 9 trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”. Những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp. Như vậy có thể hiểu: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường 1.Các cấp độ cạnh tranh Cạnh tranh không có một cấp độ nào chung cả, hiện nay trên thế giới người ta chia canh tranh ra ba cấp độ bao gồm: -Cạnh tranh cấp độ sản phẩm: Cạnh tranh diễn ra giữa các sản phẩm hay nhóm sản phẩm được hiểu là tương quan về sức cạnh tranh của một sản phẩm hay nhóm sản phẩm so với các sản phẩm hay nhóm sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Một sản phẩm hay nhóm sản phẩm có thể được tiêu thụ mạnh hơn do những ưu thế về giá cả, chất lượng sản phẩm, uy tín sản phẩm, chất lượng của dịch vụ sau bán hàng,. Năng lực cạnh tranh của ngành hay doanh nghiệp lại được thể hiện qua năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của nó. Đây cũng là cái thể hiện rõ nhất năng lực cạnh tranh của các chủ thể nói chung. -Cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp: Khái niệm cạnh tranh đầu tiên được sử dụng trong lý thuyết công nghiệp.
Lý thuyết này cho rằng một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh khi nó có thể đứng vững trên thị trường bằng cách sản xuất ra những sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn hay cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ cao hơn, đáp ứng được thị hiếu khách hàng trong môi trường cạnh tranh. Một doanh nghiệp cạnh tranh không thành công sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường nếu như doanh nghiệp đó không cải thiện được hoạt động của mình. Lợi ích mà một doanh nghiệp đạt được trong cạnh tranh sẽ không tránh khỏi việc gây ra tổn thất cho doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp trong một ngành nào đó mang tính sống còn và được đặc trưng bởi trò chơi mà một bên được thì bên kia phải mất.
10 -Cạnh tranh cấp độ quốc gia: Theo Asian Development Outlook (2003) “Cạnh tranh cấp độ quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế. Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó”. Cạnh tranh không chỉ dừng lại ở cấp độ sản phẩm và doanh nghiệp.
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, cạnh tranh được biết đến phổ biến hơn ở phạm vi toàn cầu, tức là cạnh tranh giữa các quốc gia. Nếu ở cấp độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, cạnh tranh có thể đẩy một doanh nghiệp ra khỏi hoạt động kinh doanh nếu họ không thành công trong cạnh tranh thì ở cấp độ quốc gia, điều đó là không thể. Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Các lý thuyết có liên quan 1.
Các lý thuyết về xây dựng và phát triển năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp A. Lý thuyết xây dựng năng lực cạnh tranh dựa vào nguồn lực. Nguồn lực là những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất của một tổ chức kinh doanh, bao gồm những yếu tố như: vốn, kỹ năng của người nhân công, độc quyền nhãn hiệu, tài chính và năng lực quản lý. Hơn thế nữa, nguồn lực còn bao gồm cả những yếu tố cá nhân, xã hội, tập thể.
Tương tự vậy, bí quyết sản xuất của một doanh nghiệp nếu không được đăng ký bằng sáng chế hay được bảo vệ bởi các biện pháp kiểm soát khác thì có thể sẽ bị những đối thủ cạnh tranh mua lại hoặc bắt chước theo. Nhưng khi những bí quyết này được kết hợp với những nguồn lực khác để trở thành những năng lực cốt lõi , khi đó thì chúng sẽ là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Mỗi một doanh nghiệp sẽ có những nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình của riêng nó. Trong đó, nguồn lực hữu hình là những tài sản mà ta có thể nhìn thấy và định lượng được.
Còn nguồn lực vô hình bao gồm những yếu tố từ quyền sở hữu trí tuệ, bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền cho đến các nguồn lực trí tuệ, mạng lưới kinh doanh, kỹ năng tổ chức kinh doanh, danh tiếng và mối quan hệ với cộng đồng. Nguồn lực hữu hình được chia thành bốn nhóm là: Nguồn lực tài chính bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn đi vay, khả năng tạo ra ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp. Nguồn lực vất chất: Sự tinh xảo về trang thiết bị hay địa điểm nhà máy, quyền chiếm lĩnh các nguồn nguyên vật liệu thô. Nguồn lực con người: Đào tạo, kinh nghiệm, sức phán đoán, trí thông minh, sự sáng suốt, khả năng thích nghi, sự tận tụy với công việc và long trung thành của cá nhân các nhà quản trị và người làm việc và Nguồn lực tổ chức: Kết cấu 11 báo cáo chính thức, các kế hoạch, hệ thống kiểm tra giám sát, hệ thống tổ chức bộ máy.
Nhưng những yếu tố trên không phải là tất cả giá trị tài sản của một doanh nghiệp mà bên cạnh đó còn những nguồn lực vô hình. Nguồn lực vô hình của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố: Nguồn lực mang tính kỹ năng: Bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền hay bí quyết kinh doanh. Nguồn lực cho đổi mới: Lao động có kỹ thuật, kỹ năng và Danh tiếng: Danh tiếng đối với khách hàng như nhãn hiệu, sự chấp nhận về chất lượng, độ bền và độ tin cậy của sản phẩm, danh tiếng đối với nhà cung cấp. Các nguồn lực hữu hình và vô hình đã trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển của lợi thế cạnh tranh.
Lý thuyết xây dựng năng lực cạnh tranh dựa vào phân tích chuỗi giá trị. Phân tích chuỗi giá trị được coi là một công cụ phân tích chu kỳ chiến lược hàng đầu của doanh nghiệp. Thực tế đã chỉ ra rằng, mộ doanh nghiệp quản trị các hoạt động trong chuỗi giá trị trong quan hệ với các đối thủ ra sao luôn là yếu tố then chốt để xây dựng các năng lực cạnh tranh có giá trị cao và theo đó kích đẩy chúng thành các lợi thế cạnh tranh bền vững. Chuỗi giá trị của doanh nghiệp mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hay dịch vụ từ khâu hậu cần đầu vào, đi qua các công đoạn sản xuất khác nhau (liên quan đến việc kết hợp giữa chuyển hóa vất chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đưa đến người tiêu dùng sau cùng và dịch vụ sau bán.
Hầu hết các tổ chức và doanh nghiệp đều tham gia vào hàng trăm, thậm chí là Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp hàng nghìn khâu trong quá trình chuyển đổi các đầu vào thành các đầu ra.