CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm, lý thuyết có liên quan 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cạnh tranh Ngày nay, thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy, cạnh tranh có thể được hiểu như sau: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995): Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Theo Michael Porter (1996): “Cạnh tranh là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các DN. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là DN phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.” Định nghĩa này cho thấy cạnh tranh mang tính chất lành mạnh, nhằm phục vụ nhu cầu khách hàng ngày một tốt hơn và gia tăng thị phần, và là một cuộc tranh tài giữa các doanh nghiệp, kết quả là động lực phát triển của kinh tế - xã hội. Như vậy có thể nhận thấy có rất nhiều các khái niệm khác nhau về cạnh tranh, tuy nhiên có thể rút ra một số các vấn đề chính sau đây khi nói tới vấn đề cạnh tranh: - Mục tiêu của cạnh tranh: Tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương trường đồng thời làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội mà bản chất là cố gắng giành lấy phần thắng về phía mình trong môi trường cạnh tranh.
- Phải có nhiều chủ thể cùng tham gia cạnh tranh, cùng hướng tới một đối tượng - cái mà các chủ thể phải cạnh tranh nhau nhằm chiếm đoạt được nó. - Phương pháp trong cạnh tranh: Tạo và vận dụng những lợi thế so sánh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác. - Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. 9 Ngày nay hầu hết các nước đều thừa nhận và coi cạnh tranh không chỉ là môi trường mà nó còn là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy cạnh tranh có thể nói là sự phấn đấu vươn lên giành vị trí đứng đầu trong lĩnh vực hoạt động bằng cách cập nhật sử dụng công nghệ tiên tiến, nghiên cứu tạo ra sản phẩm, dịch vụ tối ưu. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “ DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ DN”.
Theo Bộ thương mại và Công nghiệp Anh (1998) đưa ra định nghĩa “Đối với DN, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các DN khác”. Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Theo Bukley (1988), năng lực cạnh tranh của DN cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của DN với 3 yếu tố: Các giá trị chủ yếu của DN, mục đích chính của DN và các mục tiêu giúp các DN thực hiện các chức năng của mình.
Theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới (1997), định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng cạnh tranh, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý trí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện những mục tiêu doanh nghiệp đề ra”. Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của DN. Từ những cách hiểu trên, có thể hiểu khả năng cạnh tranh của một DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
10 Như vậy, NLCT không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp. Phân loại năng lực cạnh tranh 1. Năng lực cạnh tranh của quốc gia, vùng Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Theo diễn đàn kinh tế thế giới 1997 (WEF), thì NLCT quốc gia được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” Như vậy, NLCT quốc gia có thể được hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững.
Theo WEF (1997) có 8 nhân tố xác định năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm: độ mở kinh tế, chính phủ, thể chế, tài chính, công nghệ, lao động, kết cấu hạ tầng, quản trị. Đến năm 2000, chỉ số cạnh tranh quốc gia của WEF được sử dụng từ năm 1997 kết hợp với hai chỉ số mới: chỉ số NLCT tăng trưởng (GCI) và chỉ số NLCT hiện tại (CCI). Các chỉ số này được xây dựng chủ yếu dựa trên quan điểm về khả năng cạnh tranh quốc gia của M.Warner và các kinh tế gia của WEF. Năng lực cạnh tranh của ngành Trong cạnh tranh ngành có chủ thể cạnh tranh là ngành.
Nhưng do khái niệm ngành khá trừu tượng và khó tách bạch rõ ràng phạm vi ngành nên cạnh tranh ngành có ý nghĩa gần với cạnh tranh nhóm sản phẩm (như cạnh tranh ngành dệt may thực ra là cạnh tranh nhóm sản phẩm dệt may). Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng đạt năng suất cao, sử dụng đầu vào thấp nhất để tạo được nhiều đầu ra nhất trong một ngành. Cũng có cách tiếp cận khác, NLCT của một ngành là khả năng của ngành đó trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Cách tiếp cận này sát với thực tiễn khi người ta đánh giá so sánh NLCT của một ngành giữa các quốc gia khác nhau.
11 Một số tiêu chí đánh giá NLCT ngành là mức lợi nhuận bình quân ngành, tỷ trọng của ngành trong cơ cấu kinh tế, các sản phẩm mũi nhọn của ngành, hệ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA – Revealed Comparative Advantage: xác định trên cơ sở tỷ lệ giữa tỷ trọng xuất khẩu một mặt hàng của một quốc gia trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đó của quốc gia với tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó của thế giới so với tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong một năm), tỷ lệ nội địa hóa, số lượng các bằng phát minh và sáng chế trong ngành, mức vốn đầu tư, tốc độ phát triển của ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp hỗ trợ (bổ trợ). Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến NLCT ngành, có thể chia theo các nhóm nhân tố sau: điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển khoa học – công nghệ; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế – xã hội. Theo mô hình kim cương của Micheal Porter, lợi thế cạnh tranh của một DN, một ngành không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong nội bộ DN mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài trong môi trường kinh doanh quốc gia bao gồm: các điều kiện về yếu tố sản xuất, sức cầu về hàng hóa, các ngành phụ trợ, môi trường cạnh tranh ngành và vai trò của Chính phủ. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được coi là có NLCT và được đánh giá là có thể đứng vững cùng các DN khác thì các sản phẩm cung ứng ra thị trường phải có chất lượng cao và có mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh cấp DN được đo bằng các chỉ số như mức độ đáp ứng nhu cầu khách hàng về chất lượng dịch vụ; khả năng marketing, quảng cáo nhằm xây dựng hình ảnh, thương hiệu riêng; khả năng huy động vốn, năng lực tài chính của công ty cũng được sử dụng nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;… Mỗi doanh nghiệp đều có NLCT, có thế mạnh riêng của mình, DN cần phải biết được để tận dụng những thế mạnh và năng lực nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh, tạo ra sức hấp dẫn cho sản phầm, dịch vụ của mình, từ đó nâng cao doanh thu, lợi nhuận. Các lý thuyết cơ bản về cạnh tranh 1. Lý thuyết về nguồn lực, năng lực của doanh nghiệp ( Resource- based view) Lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV - Resources-based view) được giới thiệu bởi các tác giả Lippman & Rumelt (1982), Wernerfelt (1984), Diericks & Cool (1989), Grant (1991), Barney (1991, 1996), Peteraf (1993), Maijoor & Van Witteloostuijn (1996), Miller & Shamsie (1996), Markides & Williamson (1996). Cách tiếp cận dựa trên nguồn lực có hai mục tiêu là phân loại các hình thức khác nhau của nguồn lực và các nguồn lực sở hữu liên kết với nhau để hình thành và tạo ra lợi thế cạnh tranh từ lợi thế so sánh (Makadok, 2001; Wilcox & Zeithmal, 2001).