Chương 1 điều 4: Cán bộ, công chức - Nghị định 92/2009 NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh số lượng, chế độ chính sách đối với Cán bộ công chức xã. - Quyết định số 101/QĐ-UBND ngày 01/08/2016 về việc phân công nhiệm vụ cho các thành viên và cán bộ công chức UBND xã Tân Long nhiệm kỳ 2016-2021. - Hướng dẫn số 32/HD-MTTW-BTT ngày 27 tháng 01 năm 2016 về việc hướng dẫn công tác tham gia xây dựng chính quyền của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp năm 2016. - Hướng dẫn số 52 /HD-MTTW-BTT ngày 09 tháng 07 năm 2016 về việc hướng dẫn xây dựng quy chế và hoạt động và đánh giá ban công tác Mặt trận ở khu dân cư.
- Pháp lệnh số 27/2005/PL-UBTVQH11 ngày 07 tháng 10 năm 2015 về pháp lệnh CCB. - Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2016 về việc Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu chiến binh. Cơ sở thực tiễn 2. Kinh nghiệm của các địa phương khác 2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới * Ở Trung Quốc Ở Trung Quốc có tổng số công chức Nhà nước khoảng 8 triệu người, bao gồm công chức cấp TW cấp huyện, tỉnh và hương trấn.
Cấp thôn có các công chức Nhà nước biên chế ngành giáo dục, y tế là biên chế sự nghiệp không nằm trong 8 triệu này. 8 triệu công chức chia ra ở cấp TW, tỉnh, huyện hơn 5 triệu, cấp hương, trấn hơn 2 triệu. n 14 Biên chế ngành giáo dục 14 triệu người, cả nước có hơn 1000 trường đại học trong đó có 200 trường do TW trực tiếp quản lý. Biên chế ngành giáo dục 14 triệu người, cả nước có hơn 1000 trường đại học trong đó có 200 trường do TW trực tiếp quản lý.
Ngân sách Nhà nước TW đảm bảo chi cho các trường đại học do TW quản lý, ngân sách địa phương đảm bảo chi cho sự nghiệp giáo dục, hệ thống các trường đại học, dạy nghề do địa phương quản lý. Trung Quốc cũng đang từng bước thực hiện xã hội hóa giáo dục. Tổ chức chính quyền địa phương: Cả nước gồm 31 tỉnh, thành phố trực thuộc TW; 2000 quận, huyện; 50. Tất cả các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, hương, trấn đều có đại biểu nhân dân (như HĐND ở Việt Nam).
Các thành phố trực thuộc TW có đại hội đại biểu nhân dân cấp thành phố, cấp quận. Dưới quận có các khu phố nhưng không làm đơn vị hành chính do đó không có đại biểu nhân dân mà có ban quản lý khu phố hoạt động với tính chất là đại diện của cơ quan hành chính cấp quận. Hương, trấn là cấp chính quyền cơ sở, bình quân có 2 – 3 vạn dân, nơi nhiều có đến 100.000 dân, nhưng cũng có nơi ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có vài tram người. Thôn không là cấp chính quyền do đó không có đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp là công chức Nhà nước.
Những nội dung chính của quản lý nhân sự hiện nay Chế độ phân loại nhân sự căn cứ vào đặc điểm khác nhau của công chức, nhân viên, người làm trong doanh nghiệp Nhà nước. Chế độ tiền lương khoa học, hợp lý. Chế độ bảo hiểm xã hội. Giao quyền cho cấp dưới nhiều hơn trong quản lí nhân sự.
Thực hiện hệ thống quản lý vĩ mô ở TW, từ quản lý trực tiếp cụ thể các doanh nghiệp sang quản lý gián tiếp vĩ mô. n 15 Các biện pháp cụ thể Thi tuyển công chức để giữ vững, làm chặt đầu vào. Thực hiện đánh giá công chức hàng năm, nếu 2 năm liền công chức không đạt yêu cầu sẽ bị buộc thôi công chức. Trong cả nước có khoảng 5.000 công chức bị thôi chức trong vài năm gần đây thông qua biện pháp này.
Luân chuyển công chức: sau 5 năm phải thực hiện luân chuyển công chức ở các vị trí quản lý về người, vật tư, tài sản, cấp văn bằng, biển số, giấy phép tức là các lĩnh vực trọng điểm thường hay nảy sinh tiêu cực. Mặt được của vấn đề này là nâng cao khả năng của cán bộ, giữ khí thế cải cách bảo đảm sự liêm khiết của công chức. Xây dựng và đưa vào hoạt động thị trường nhân tài Đây là vấn đề đáng chú ý mà Trung Quốc đã đưa vào thực hiện. Nhân tài được quan niệm là những người có trình độ từ trung cấp trở lên (khác với những người có trình độ thấp được giúp đỡ tìm việc làm qua các trung tâm).
Điều quan trọng là các bước chuyển trong khai thác nhân tài từ truyền thống mà đặc trưng là qua các kế hoạch sang khai thác qua thị trường, qua đó phát huy được tính sáng tạo, tích cực của nhân tài. Tại thị trường nhân tài mà chủ yếu là hệ thống máy vi tính được cập nhật số liệu về những người đăng kí việc làm tiếp xúc với đại diện của các doanh nghiệp, tổ chức cần lấy người. Bên cung và cầu gặp nhau đi đến kết quả cuối cùng là giải quyết việc làm trong xã hội. Toàn Trung Quốc có khoảng 7 thị trường nhân tài khu vực do bộ nhân sự, chính quyền các tỉnh cùng xây dựng và khoảng 2000 thị trường nhân tài cơ sở.
Những người muốn trở thành công chức đều phải thi tuyển, do đó không qua hệ thống thị trường nhân tài.[4] *Singapore Vấn đề cải cách hành chính ở Singapore được đặt ra khá sớm. Từ đầu những năm 1970, Chính phủ đã khuyến khích công chức nên có sáng kiến cải n 16 cách hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước. Đặc biệt năm 1991, Chính phủ đề ra chương trình cải cách công vụ mang tên “Nền công vụ thế kỷ 21”. Mục tiêu của chương trình là xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực, công chức nêu cao tinh thần liêm chính, tận tụy và có chất lượng dịch vụ cao.
Trong lĩnh vực cải cách chế độ công vụ, Singapore ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo công chức; đổi mới tổ chức gắn liền với tạo cơ chế phù hợp; đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ với tiêu chí làm hài lòng khách hàng. Để thực hiện mục tiêu đề ra, Chính phủ Singapore đã áp dụng nhiều biện pháp trong đó có các biện pháp như: Sử dụng bộ quy chuẩn ISO – 9000 trong bộ máy hành chính, coi đây vừa là công cụ cải tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức. Singapore đề ra chương trình mang tên “Zero – In – process” nhằm xóa bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng lớp đồng thời đề cao trách nhiệm của bộ máy hành chính. Mọi góp ý, đề xuất của nhân dân về hoạt động của cơ quan hành chính đều được nghiên cứu, xem xét.
Các cơ quan hành chính phải thường xuyên rà soát loại bỏ những quy định không còn phù hợp. Chính phủ Singapore đặc biệt chú trọng đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, coi đây là giải pháp cơ bản để xây dựng nền công vụ có hiệu quả. Theo quy định, mỗi công chức bắt buộc phải được bồi dưỡng 100 giờ/ năm; phải có kế hoạch học tập cho mình trong đó có việc sử dụng 100 giờ quy định, với 60% thời lượng phục vụ cho công việc hiện tại và 40% cho công việc tương lai. Hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức được áp dụng lính hoạt cho phù hợp với từng đối tượng như đào tạo cơ bản, đào tạo nâng cao, đào tạo mở rộng và đào tạo bổ sung.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam.
*Kinh nghiệm ở tỉnh Lào Cai Lào cai là tỉnh vùng cao, diện tịch tự nhiên 6354,3km2, có 164 xã, phường, thị trấn, trong đó 123 xã thuộc diện 135, có đường biên giới với Trung Quốc dài 203km, có của khẩu quốc tế. Số dân xấp xỉ 60 vạn người, gồm 27 dân tộc anh em. Trong đó đồng bào thiểu số chiếm 64,7%, dân tộc Mông chiếm 22,21%, Tày (Thu Lao, Pa Dí) chiếm 15,84%, Dao 14,05%, Dáy 4,7%, Nùng 4,4%.Toàn tỉnh có 161/164 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, 77 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS. Hiện nay, Đảng bộ tỉnh có 567 tổ chức cơ sở Đảng, hơn 22 ngàn Đảng viên; trong đó số tổ chức cơ sở Đảng thuộc loại hình xã, phường, thị trấn là 28,75%; cơ quan hành chính là 35,35%; cơ sở dự nghiệp là 9,55%; loại hình khác là 26,35%.
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong toàn tỉnh tính đến ngày 30-6-2006 là 17.280 người trong đó công chức khối Đảng, đoàn thể là 1.052 người, khối Nhà nước là 16. Tổng số cán bộ là người dân tộc thiểu số có 3. Trong đó: Chỉ tính cơ quan cấp tỉnh có 25,17%; cơ quan cấp huyện có 17. Về trình độ cán bộ là người dân tộc thiểu số có 507 người có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên (thạc sĩ 9, đại học 498), 1.734 người trình độ cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, 151 người có trình độ cử nhân và cao cấp lý luận chính trị, 501 người được đào tạo trung cấp lý luận chính trị.
Cùng với sự tăng lên về số lượng, trong những năm gần đây trình độ cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai tiếp tục được nâng lên về mọi mặt (học vấn chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và quản lý Nhà nước…), từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, của ngành. n 18 Cán bộ dân tộc thiểu số đang đảm đương nhiều cương vị lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, ngành. Ở cấp tỉnh: Thường trực Tỉnh ủy có 1/3 đồng chí (33.3%), Thường trực HĐND tỉnh có 3/3 đồng chí (100%), Ban Thường vụ tỉnh ủy có 5/13 đồng chí (38.5%, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh có 17/47 đồng chí (36.17%), cán bộ lãnh đạo, quản lý các sở, ban, ngành và tương đương trực thuộc tỉnh có 14/82 đồng chí (17. Ở cấp huyện, thành phố: cán bộ lãnh đạo chủ chốt có 23/55 đồng chí (41.
Tỉnh đã thực hiện ngày càng tốt việc quy hoạch, đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số. Hai năm 2005 – 2006 có 250 cán bộ dân tộc thiểu số được đào tạo lý luận chính trị từ cấp trung cấp trở lên. Về chuyên môn: Đào tạo trên đại học có 6 người; đào tạo đại học theo địa chỉ có 32 người; đào tạo cử tuyển đại học, cao đẳng 193 người; đào tạo trung học chuyên nghiệp 2. Đào tạo về văn hóa tại các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, huyện 10.
Số cán bộ dân tộc thiểu số được đưa vào quy hoạch tăng: cơ quan cấp tỉnh từ 14% (năm 2000) lên 25.17%, cán bộ nữ từ 11% lên 14%.