phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về ASXH và thực thi chính sách ASXH. Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách ASXH trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua. Chƣơng 3 : Quan điểm và giải pháp thực thi chính sách ASXH trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1. An sinh xã hội 1.
Khái niệm về an sinh xã hội ASXH là khái niệm đƣợc ra đời ở các nƣớc công nghiệp phát triển từ cuối thế kỷ XIX và hiện nay đã phát triển rộng khắp trên toàn cầu. ASXH là khái niệm có nội dung rộng và ngày càng đƣợc hoàn thiện về phạm vi, đối tƣợng và chức năng. ASXH theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tƣợng hƣớng tới khác nhau: Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [49]. Định nghĩa nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho các đối tƣợng.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB): “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đƣơng đầu và kiềm chế đƣợc nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thƣơng và những bấp bênh thu nhập” [51]. Định nghĩa này nhấn mạnh đến các giải pháp nhằm kiềm chế nguy cơ làm giảm thu nhập của các cá nhân, gia đình và cộng đồng. Theo Ngân hàng Phát triển châu (ADB): “ASXH là các chính sách, chƣơng trình giảm nghèo và sự giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trƣờng lao động, giảm thiểu rủi ro của ngƣời dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập” [47]. Định nghĩa 7 nhấn mạnh vai trò của nhà nƣớc trong việc đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động bất lợi đến ngƣời dân.
Ở Việt Nam, xung quanh khái niệm an sinh xã hội cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau. Khái niệm về ASXH trong Nghị quyết số 15 của Đảng về một số chính sách xã hội, ngoài chính sách về ngƣời có công, đã xác định nội dung của an sinh xã hội Việt Nam dựa trên trụ cột: việc làm, thu nhập và giảm nghèo; Bảo hiểm xã hội; Trợ giúp xã hội và đảm bảo mức sống tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho ngƣời dân. Điều này có nghĩa là pháp luật bảo đảm và tạo điều kiện để ngƣời dân có quyền có việc làm, đƣợc đảm bảo thu nhập tối thiểu, đảm bảo mức sống tối thiểu.TS Mai Ngọc Cƣờng trong công trình “ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam” lại cho rằng, để thấy hết đƣợc bản chất của ASXH cần phải tiếp cận khái niệm này theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, “ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con ngƣời đƣợc an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội”.
Còn khi hiểu ASXH theo nghĩa hẹp thì đó “là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những ngƣời già cô đơn, trẻ em mồ côi, ngƣời tàn tật, những ngƣời yếu thế, ngƣời bị thiên tai địch hoạ” [12]. Theo GS Hoàng Chí Bảo: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con ngƣời, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực phát triển con ngƣời và xã hội. ASXH là những đảm bảo cho con ngƣời tồn tại (sống) nhƣ một con ngƣời và phát triển các sức mạnh bản chất ngƣời, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó nhƣ một chủ thể mang nhân cách [4]. 8 Trong “Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 – 2020” do Bộ LĐTBXH xây dựng thì: “ASXH là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trƣớc các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế” [3].
Trong bài “ Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của “Chiến lược phát triển KT - XH 2011 – 2020”, nguyên Thủ tƣớng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng “ ASXH và phúc lợi xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của ngƣời dân trƣớc những rủi ro và tác động bất thƣờng về kinh tế, xã hội và môi trƣờng; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân” [14]. Từ những quan điểm trên, trong nội dung luận văn này An sinh xã hội theo nghĩa chung nhất là sự giúp đỡ của Nhà nƣớc, xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đảm bảo thực hiện các quyền của con ngƣời: đƣợc sống trong điều kiện hòa bình, đƣợc bảo vệ và bình đẳng trƣớc pháp luật, đƣợc thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu, đƣợc học tập, đƣợc có việc làm, có nhà ở,… nhằm giúp họ tránh đƣợc mối đe doạ của cuộc sống thƣờng nhật, trợ giúp họ đối phó khi bị rủi ro, tai nạn, bệnh tật, tuổi già, trẻ mồ côi, nghèo khổ,… giúp họ vƣợt qua những khó khăn và từng bƣớc nâng cao ổn định cuộc sống, hoà nhập cộng đồng. Ý nghĩa an sinh xã hội Đề cập đến ASXH thực chất là nói đến những vấn đề nhằm đảm bảo đời sống cho nhân dân. Các chính sách ASXH là những điều kiện cơ bản của nhà nƣớc đề ra nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội, do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc.
Nhƣ vậy, bản chất sâu xa của ASXH là góp phần bảo đảm thu nhập và đời sống 9 cho các công dân trong xã hội với phƣơng thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, của Nhà nƣớc hay cộng đồng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên của xã hội. Từ đó có thể thấy rõ ý nghĩa của ASXH thể hiện trên những khía cạnh sau: Thứ nhất, ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con ngƣời. Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó. Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lƣới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trƣớc những “rủi ro xã hội”.
Để tạo ra lƣới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, đƣợc thực hiện bằng nhiều hình thức, phƣơng thức và các biện pháp khác nhau. Nhƣ vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trƣớc mọi “biến cố" (các cú sốc) gây ra các rủi ro bất lợi. Thứ hai, ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp. ASXH tạo cho những ngƣời bất hạnh, những ngƣời bình thƣờng khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro", có cơ hội để phát triển, hòa nhập vào cộng đồng.
ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con ngƣời, kể cả ngững ngƣời giàu và ngƣời nghèo; ngƣời may mắn và ngƣời kém may mắn, giúp họ hƣớng tới những chuẩn mực của Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ đó, nó có thể chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại đƣợc tƣ tƣởng mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy sáng”… Đồng thời, giúp mọi ngƣời hƣớng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên. Thứ ba, ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tƣơng thân tƣơng ái của cộng đồng. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội.
Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những ngƣời bất hạnh là nhằm hoàn thiện 10 những giá trị nhân bản của con ngƣời, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh. ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội thông qua công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, đƣợc thực hiện theo hai chiều ngang và dọc. Nhờ đó ASXH góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Nội dung an sinh xã hội Hệ thống ASXH giữa các quốc gia trên thế giới đƣợc xây dựng không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Tuy nhiên, hệ thống ASXH ở nƣớc ta hiện nay bao gồm một số nội dung cơ bản sau đây: 1.Bảo hiểm xã hội BHXH là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH. Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH có điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những ngƣời tham gia; đòi hỏi tất cả mọi ngƣời tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên đƣợc hƣởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hƣởng; chi phí cho các chế độ đƣợc chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ đƣợc hình thành từ sự đóng góp của những ngƣời tham gia, thƣờng là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và ngƣời lao động, với một phần tham gia của nhà nƣớc; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trƣờng hợp ngoại lệ; phần tạm thời chƣa sử dụng của Quỹ đƣợc đầu tƣ tăng trƣởng, nâng cao mức hƣởng cho ngƣời thụ hƣởng chế độ BHXH; các chế độ đƣợc bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của ngƣời hƣởng BHXH; các mức đóng góp và mức hƣởng tỷ lệ với thu nhập trƣớc khi hƣởng BHXH… Các chế độ nằm trong hệ thống BHXH hiện hành bao gồm: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp hƣu trí và trợ cấp tử tuất.