Đặt vấn đề Nghề chăn nuôi gia cầm của nước ta đã có lịch sử rất lâu đời chiếm vị trí quan trọng trong nghành chăn nuôi của Việt Nam. Chăn nuôi gia cầm cung cấp thực phẩm cho con người, đồng thời cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một phần sản phẩm của nó là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi gia cầm đã giúp cho người dân tăng thêm nguồn thực phẩm tự cung, tự cấp và góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao.
Theo số liệu điều tra vào năm 2018 của Tổng cục Thống kê,đàn gia cầm ước đạt 11.400 nghìn con, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số đàn gia cầm, gà là loại vật nuôi chủ yếu trong nhóm gia cầm, đàn gà đạt 9.171 nghìn con, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm trên 80% tổng đàn gia cầm. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm.
Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề:“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡngvà phòng trị bệnh trên đàn h 2 gà thịt nuôitại trại gà Nguyễn Hồng Phong, xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnhThái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh. - Đánh giá tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi chuồng kín và tham gia điều trị bệnh cho gà thịt. Yêu cầu - Trực tiếp thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng, chẩn đoán và điều trị các bệnh xảy ra trên gà thịt nuôi chuồng kín. - Thực hiện tốt các quy định của cơ sở cũng như các nội quy- quy định của khoa và Nhà trường khi đi thực tập tốt nghiệp.
h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên.73 km2, dân số năm 2019 là 94.Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21°32’ đến 21°51’độ vĩ bắc, 105°46’ đến 106°04’ độ kinh đông. Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn, phía Nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên.Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lượn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hướng Bắc - Nam xuống đến đập Thác Huống.
HuyệnĐồng Hỷ gồm2 thị trấn và 13 xã:2 thị trấn: thị trấn Sông Cầu, thị trấn Trại Cau. 13 xã: Văn Lăng, Hòa Bình, Tân Long, Quang Sơn, Hóa Thượng, Hóa Trung, Minh Lập, Khe Mo, Văn Hán, Nam Hòa, Tân Lợi, Cây Thị, Hợp Tiến. Địa hình đất đai:Đồi núi xen kẽ các thung lũng, đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất cho sử dụng chiếm 25,7%.Núi Chùa Hang- xưa còn gọi là núi đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay. Khí hậu: Khí hậu Đồng Hỷ chia thành 2 mùa, mùa mưa và mùa khô.
Nhiệt độ không khí trung bình 23°C, tháng cao nhất là 28°C, tháng thấp nhất là 16,1°C. Độ ẩm trung bình năm 82%, tháng cao nhất là 86%, tháng thấp nhất là 78%. h 4 Khí hậu chia thành 2 mùa, mùa mưa và mùa khô, lượng mưa trung bình khoảng 2. Tài Nguyên Đồng Hỷ có vàng sa khoáng ở khu vực Ngàn Me, Cây Thị, cụm mỏ sắt Trại Cau (trữ lượng khoảng 20 triệu tấn) và mỏ Linh Sơn (trữ lượng từ 1 -3 triệu tấn).
Ngoài ra, Đồng Hỷ còn có nhiều khoáng sản như: đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit. Điều kiện kinh tế xã hội Hầu hết các xã, thị trấn ở Đồng Hỷ có đường ô tô đến trung tâm. Đất đai ở Đồng Hỷ thích hợp cho việc trồng rừng, trồng lúa, nấm, rau màu và chăn nuôi gia cầm… Những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều chỉ tiêu đạt cao so với kế hoạch như: sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 52,7 nghìn tấn, vượt 17% kế hoạch; diện tích trồng rừng đạt gần 1,5 nghìn ha, vượt 49% kế hoạch; thu ngân sách trong cân đối đạt gần 123 tỷ đồng, vượt 33% dự toán tỉnh giao… Người dân trên địa bàn huyện chủ yếu là nông dân làm ruộng, trồng chè, trồng cây, chăn nuôi tại địa phương và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Điều kiện cơ sở vật chất của trại Trang trại được xây dựng ngày 17 tháng 05 năm 2018. Cơ sở vật chất được đầu tư hiện đại. - Trại được thiết kế xa khu dân cư, trường học, chợ…Có hàng rào bao quanh. - Trang trại gồm 4 dãy chuồng cách nhau 15 mét, mỗi chuồng gồm có 1 tầng, với quy mô nuôi được 40000 gà/lứa.
- Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng tự động. Máng uống nước tự động, một dãy chuồng gồm 4 đường ăn tự động và 5 đường nước h 5 uống tự động. Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tôn xốp cách nhiệt. - Có 2 kho thức ăn, 2 máy phát điện, mỗi chuồng 10 quạt thông gió và mỗi trại có 1 máy heater và 1 lò than được thiết kế bên ngoài chuồng,1 lò gồm gồm có 3 bếp nhỏ.
- Trong mỗi chuồng có 2 nhiệt kế và các cảm biến nhiệt để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi. - Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng là nước giếng khoan công nghiệp có các bể xử lí nước trước khi sử dụng. - Hệ thống điện của trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện. - Mỗi chuồng được lắp đặt một camera và 6 camera xung quanh để theo dõi, sân trại được bê tông hóa.
Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại tổ chức như sau: - Diện tích chuồng trại là 4760m2 (4 chuồng). - Gồm 4 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 10000 con. - Mỗi chuồng có chiều dài 70 m, chiều rộng 17 m. - Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm: + 01 kĩ sư.
+ 02 sinh viên thực tập. - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinh hoạt với trại. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học 2.
Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà - Tiêu hóa ở miệng: Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng. Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác ý nghĩa kém hơn. Thiếu ánh sáng gà ăn kém. Tuyến nước bọt kém phát triển.
Nước bọt không chứa enzym, chỉ để dính bọc làm trơn thức ăn di chuyển vào thực quản. Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày. Tuyến nhầy của thực quản tiết dịch nhầy làm thức ăn di chuyển dễ dàng. - Tiêu hóa ở diều: Ở diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hoá từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn trong thức ăn thực vật.
Thức ăn cứng lưu lại diều lâu hơn. Khi thức ăn hạt và nước tỷ lệ bằng 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 -6 giờ. Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 - 5,8. Sau khi ăn 1 - 2 giờ diều co bóp theo dạng dãy (khoảng 3 - 4 co bóp) với khoảng cách 15 - 20 phút; sau 5-12 giờ là 10 - 30 phút, khi đói 8 - 16 lần/giờ.
Ở diều, nhờ men amilaza tinh bột được phân giải thành đường đa có trọng lượng phân tử nhỏ hơn, một phần chuyển thành đường đơn glucoza. - Tiêu hóa ở dạ dày + Tiêu hóa ở dạ dày tuyến Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ. Vách gồm màng nhầy, cơ và màng mô liên kết. Dịch có chứa axit chlohydric, pepsin, men bào tử và musin.
Sự tiết dịch của dạ dày tuyến là không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường. h 7 Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ăn chuyển đến dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá 1 lần/phút). Ở dạ dày tuyến sự thuỷ phân protein như sau: Protein + nước + pepsin và HCl —> albumoza + pepton + Tiêu hóa dạ dày cơ Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá, mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ. Thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hoá dưới tác dụng của các men dịch dạ dày, enzym và vi khuẩn.
Axit chlohydric tác động làm cho các protein trở nên căng phồng, lung lay và nhờ có pepsin, chúng được phân giải thành pepton và một phần thành các axit amin. Dịch dạ dày tinh khiết, lỏng, không màu hoặc hơi trắng đục, độ axit tăng dần cùng với tuổi: Ở gà con vài ngày tuổi pH = 4,2 - 4,4, ở gà 31 - 40 ngày tuổi pH = 1,15 - 1,55 và giữ ở mức này với sự dao động không lớn trong các thời kỳ tuổi tiếp theo. Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào manh tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường bị kiềm hoá tạo những điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và gluxit.Dạ dày cơ co bóp nhịp nhàng trong 2 pha: pha đầu 2 cơ chính; pha thứ 2 cơ trung gian, số lần co bóp phụ thuộc độ rắn của thức ăn, khi ướt 2 lần, rắn cứng 3 lần/phút. Sau 2 - 5 lần co bóp, thức ăn ở dạ dày được chuyển tới manh tràng.