Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Khó có thể liệt kê hết các công trình nghiên cứu về dân chủ, DCCS bởi đây là nội dung thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học trong và ngoài nước, thuộc các ngành khoa học xã hội khác nhau như: triết học, luật học, xã hội học, chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học…. Các công trình nghiên cứu có quy mô khác nhau, thể hiện dưới hình thức khác nhau như: sách chuyên khảo; đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp bộ; luận án, luận văn; bài viết. Các kết quả nghiên cứu có liên quan đến lý lu¾n thực hi n pháp lu¾t về dân chủ cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước 1.
Nhóm các kết quả nghiên cúu lý lu¾n về dân chủ cơ sở - DCCS trong mối quan hệ với dân chủ Trong cuốn Democracy and its Critics (Dân chủ và sự phê phán của nó), Robert Alan Dalh đã tiếp cận vấn đề từ góc độ chính trị học, từ vấn đề nguồn gốc quyền lực nhà nước được xuất phát từ quyền lực của nhân dân. Bởi quyền lực nhà nước xuất phát từ quyền lực nhân dân nên nhân dân có quyền làm chủ quyền lực nhà nước. Quyền làm dân chủ được thể hiện qua các tiêu chí của một nền dân chủ lý tưởng (được đánh giá bằng: 1. Sự tham gia hiệu quả; 2.
Công bằng trong bầu cử; 3. Sự hiểu biết sâu sắc; 4. Kiểm soát chương trình nghị sự; 5. Sự tham gia bình đẳng).
Từ cách tiếp cận vấn đề dân chủ như vậy, Robert Alan Dalh đi đến luận giải: để xây dựng nền dân chủ trong xã hội cần phải có sự chế ước lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Trong đó, sự chế ước giữa các chủ thể trong xã hội ở đây bao gồm cả sự chế ước của nhân dân đối với nhà nước. Và hệ thống các quy phạm pháp luật chính là yếu tố đảm 9 bảo cho sự chế ước này được thực hiện trên thực tế, đảm bảo dân chủ được thực hiện từ trong các tổ chức, cộng đồng nhỏ đến trong phạm vi quốc gia. Cũng khai thác vấn đề dân chủ song tiếp cận vấn đề ở một khía cạnh khác, cách tiếp cận lịch sử, Sorensen Georg trong Democracy and democractization processes and prospects in changing world” (Dân chủ và quá trình dân chủ hóa và triển vọng trong một thế giới chuyển đổi) đã cho thấy xu hướng dân chủ hóa mạnh mẽ trong thế giới hiện đại.
Tác giả Hoàng Chí Bảo trong cuốn Lý lu¾n về dân chủ và thực hiện dân chủ hóa ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đã trình bày một cách có hệ thống các vấn đề về dân chủ và đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của dân chủ hóa, coi đó là chìa khóa để thúc đẩy sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực. Cũng như Robert Alan Dalh, qua phân tích của mình, tác giả Sorensen Georg cho thấy sự phát triển dân chủ ở các nước có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau là khác nhau. Sự phát triển của dân chủ và các mô hình dân chủ hình thành trong xã hội tại Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào khác đều sẽ nhiều nét tương đồng và cả nhiều nét khác biệt. Không thể rập khuôn một mô hình về xây dựng và thực hiện dân chủ ở các quốc gia khác nhau.
Aristotle trong The Politics (Chính trị lu¾n) đã xác định nguyên tắc cơ bản của dân chủ là tự do. Tự do, theo Aristotle gồm hai phần: thứ nhất là tự do chính trị, trong đó mọi người dân đều có thể tham chính (qua bầu cử vào các chức vụ trong chính quyền); thứ hai là tự do dân sự, qua đó người dân sống theo ý mình thích, bao hàm ý nghĩa tự do là không bị chính quyền xâm phạm. Ở một chừng mực nào đó, việc các cá nhân được tự mình bày tỏ những suy nghĩ, thực hiện các công việc và quyết định các vấn đề có liên quan đến cá nhân mình, đến cộng đồng nơi mình sinh sống, làm việc (tham chính hay không tham chính, ủng hộ hay không ủng hộ…) chính là sự thể hiện cụ thể của dân chủ. Như vậy, dân chủ không phải là cái gì quá cao xa.
Dân chủ là 10 những gì rất gần gũi, rất thường nhật; giúp giải phóng con người trong chính môi trường sinh hoạt, môi trường chính trị của họ. Dân chủ cơ sở có mối quan hệ chặt chẽ với dân chủ, trong đó, tác giả Trương Hồ Hải (2015) trong bài Hoàn thiện pháp lu¾t về cơ chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp [42] đã phân tích: Cơ sở (xã, phường, cơ quan, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp…) là nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, là địa bàn trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, công tác và học tập. Cơ sở là nơi diễn ra các hoạt động dân chủ, là môi trường để các chủ thể thực hiện quyền làm chủ của mình, thể hiện vai trò, trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp địa phương nơi mình đang làm việc, cư trú. Cuốn Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý lu¾n của Đảng 1986 - 2005, (2 tập) do Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt và Lê Ngọc Tòng (đồng chủ biên), Nxb Lý luận chính trị năm 2005; bài Những nội dung mới về nền dân chủ XHCN của Phan Xuân Sơn đăng trên Báo Đại đoàn kết tháng 5/2011; bài Những nh¾n thúc lý lu¾n mới về dân chủ qua 20 năm đổi mới và trong văn kiện Đại hội X của Đảng của Hoàng Chí Bảo đăng trên Tạp chí Triết học số Tháng 10 năm ; bài Dân chủ XHCN và thực hiện dân chủ XHCN theo tinh thần đại hội XI của Đảng của Trương Minh Tuấn (2011) trong Kỷ yếu hội thảo - Văn kiện Đại hội XI của Đảng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn; bài Vấn đề dân chủ trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng của Vũ Hoàng Công đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số tháng 5/2011; bài Phát huy dân chủ XHCN ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng của Nguyễn Quốc Sửu đăng trên Tạp chí Cộng sản số 9 năm 2016…đã phân tích quan điểm mới của Đảng về dân chủ XHCN như: mô hình dân chủ, dân chủ XHCN trong mô hình hệ thống chính trị XHCN với cơ chế Đảng lãnh 11 đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
cho thấy sự phát triển về nhận thức về dân chủ, dân chủ XHCN, DCCS ngày càng sâu sắc và đúng đắn hơn. Cùng với đó, mô hình DCCS, lý luận về DCCS, mục tiêu xây dựng và thực hiện DCCS ngày càng được hình thành rõ nét, được quan tâm và chú trọng. - Hình thức DCCS Dân chủ, DCCS ở nước ta hiện nay được thực hiện dưới hình thức dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp, đó chính là việc nhân dân thực hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của mình đối với các vấn đề có liên quan để tổ chức và hoạt động ở cơ sở. Những nội dung này cũng đã được phản ánh trong bài viết Những nh¾n thúc mới về dân chủ qua 20 năm đổi mới và trong Văn kiện Đại hội X của Đảng của tác giả Hoàng Chí Bảo (2007) [9].
Trong Kỷ yếu hội thảo Một số vấn đề Lý lu¾n, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam (2014), các tác giả chỉ ra dân chủ gián tiếp là hình thức tham gia quản lý nhà nước thông qua các đại diện được bầu cử, thay mặt cho cử tri trong việc thực hiện các chức năng hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và xã hội; dân chủ trực tiếp là hình thức nhân dân trực tiếp quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia mà không qua yếu tố trung gian nào [132]. Tất nhiên, việc thực hiện DCCS bằng mỗi hình thức khác nhau đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Nhược điểm của dân chủ trực tiếp là ở phản ứng tình cảm, nhất thời và phụ thuộc vào vấn đề thông tin. Trình độ dân trí thấp và việc thiếu thông tin có thể dẫn tới những “nguy hiểm” trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Nhược điểm của dân chủ gián tiếp là khi không có sự thống nhất ý chí trong các cử tri ở khu vực bầu cử, người đại diện khó có thể thể hiện được nguyện vọng thực sự của nhân dân [132]. Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là đối với việc thực hiện pháp luật về DCCS, hình thức dân chủ trực tiếp được chú trọng hơn, được thực hiện sâu rộng, thực chất và hiệu quả hơn. 12 - DCCS trong CQHCNN Max Weber trong “Politik als beruf” (Chính trị là một nghề chuyên môn) đã lý giải: vì nhà nước có “tính chính đáng” nên nó có thể tồn tại trong nền dân chủ. “Tính chính đáng” của nhà nước hiện đại được xây dựng trên “thẩm quyền pháp lý”.
Và đồng thời, các hoạt động của nhà nước hiện đại bị hạn định bởi nguyên tắc pháp quyền. Chính quyền có duy trì được tính chính đáng của mình hay không còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của người dân đối với chính quyền, thể hiện qua việc thực hiện chính sách, pháp luật; thực hiện trên thực tế các quyết định của chính quyền [156]… Từ những nội dung này, có thể thấy, nhà nước duy trì địa vị của mình bởi sự tồn tại của nhà nước là chính đáng, bởi pháp luật (cơ sở pháp lý cho hoạt động của nhà nước) đảm bảo quyền lợi, quyền làm chủ của người dân, do đó, được nhân dân ủng hộ. Tác giả Nguyễn Thành Lợi (2009) trong bài Trung Quốc thực hiện dân chủ ở cơ sở sau 30 năm cải cách mở của đăng trên Tạp chí Cộng sản [67] đã phân tích các chế độ dân chủ ở Trung Quốc bao gồm: chế độ nông dân tự quản; chế độ tự quản ở tổ dân phố; chế độ quản lý dân chủ ở cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp.