Luận văn: Chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Hà Quảng, Cao Bằng

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết "Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng". Dưới đây là kết

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

85
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách giảm nghèo bền vững huyện Hà Quảng Cao Bằng

Chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng là chương trình trọng điểm nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Được triển khai từ năm 2016 theo Nghị quyết 11/NQ-TW về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, chính sách này tập trung vào 4 trụ cột: hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, phát triển hạ tầng và an sinh xã hội. Huyện Hà Quảng có đặc điểm địa hình đồi núi, giao thông khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao trên 30% (2020) do hạn chế về sản xuất nông nghiệp và thiếu việc làm. Chính quyền huyện đã phối hợp với các sở ngành tỉnh triển khai 15 dự án giảm nghèo với tổng vốn đầu tư 50 tỷ đồng, tập trung vào mô hình trồng chè Shan tuyết, chăn nuôi dê và du lịch cộng đồng. Kết quả bước đầu cho thấy tỷ lệ hộ nghèo giảm 12% sau 5 năm, song vẫn tồn tại bất cập về tiếp cận nguồn lực và hiệu quả sử dụng vốn.

1.1. Khái niệm và mục tiêu chính sách giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là quá trình xóa đói giảm nghèo không chỉ dựa vào hỗ trợ ngắn hạn mà còn xây dựng năng lực tự vươn lên cho người dân. Tại huyện Hà Quảng, mục tiêu chính sách bao gồm: nâng tỷ lệ hộ có thu nhập trên 1 triệu đồng/tháng lên 80% vào năm 2025; 100% hộ nghèo được tiếp cận giáo dục nghề nghiệp; 90% thôn bản có đường giao thông đến trung tâm xã. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả gồm: tỷ lệ hộ thoát nghèo, thu nhập bình quân đầu người, và chỉ số phát triển con người (HDI) địa phương. Điểm đặc biệt là chính sách ưu tiên nhóm dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Mông) chiếm 95% dân số huyện, với các giải pháp phù hợp văn hóa bản địa.

1.2. Bối cảnh thực hiện chính sách tại huyện Hà Quảng

Huyện Hà Quảng nằm ở cực bắc Cao Bằng, có 19 xã, 1 thị trấn với diện tích 689 km². Địa hình chia cắt bởi sông Gâm và các dãy núi cao, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Kinh tế chủ yếu là trồng ngô, lúa nương và chăn nuôi nhỏ lẻ. Năm 2015, huyện có 12.500 hộ nghèo, chiếm 42% dân số. Các chương trình hỗ trợ trước đây tập trung vào cứu trợ đột xuất, thiếu liên kết sản xuất. Năm 2018, huyện ban hành Quyết định 123/QĐ-UBND về Đề án giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018-2025, trong đó nhấn mạnh phát triển sản xuất hàng hóa gắn với thị trường. Tuy nhiên, tiến độ triển khai chậm do thiếu cán bộ chuyên trách và kinh phí phân bổ không đều giữa các xã.

II. Phân tích thực trạng và vấn đề đặt ra trong thực hiện chính sách

Việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Hà Quảng đối mặt nhiều thách thức do đặc thù địa lý và trình độ dân trí thấp. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2020 là 28%, giảm 14% so với 2016 nhưng vẫn cao hơn mức bình quân tỉnh (22%). Nguyên nhân chính bao gồm: thiếu vốn đầu tư vào sản xuất, trình độ canh tác lạc hậu, biến đổi khí hậu gây mất mùa. Hệ thống giám sát chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng hỗ trợ trùng lặp hoặc bỏ sót đối tượng. Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu thị trường, khiến người dân sau đào tạo không có việc làm. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi chưa phù hợp với thổ nhưỡng địa phương, dẫn đến tỷ lệ thất bại cao.

2.1. Những tồn tại trong công tác triển khai chính sách

Khâu tổ chức triển khai chính sách còn nhiều hạn chế. Cụ thể, việc rà soát hộ nghèo hàng năm không cập nhật kịp thời do thiếu cán bộ địa phương. Mô hình hỗ trợ sinh kế như trồng chè Shan tuyết tại xã Thượng Thôn chỉ đạt 60% kế hoạch do thiếu kỹ thuật canh tác. Chương trình đào tạo nghề cho 500 lao động/năm không đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp tại huyện. Hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo (PMIS) hoạt động chưa hiệu quả do thiếu nguồn lực vận hành. Đặc biệt, tỷ lệ thoát nghèo quay trở lại sau 2 năm là 15%, cho thấy thiếu giải pháp bền vững. Tình trạng tham nhũng trong phân phối gạo cứu trợ tại xã Lũng Nặm năm 2019 gây bức xúc dư luận.

2.2. Ảnh hưởng của yếu tố khách quan và chủ quan

Yếu tố khách quan như biến đổi khí hậu khiến sản xuất nông nghiệp thất thường, mùa màng thất bát. Đường giao thông xuống cấp cản trở lưu thông hàng hóa, tăng chi phí sản xuất. Động đất nhẹ thường xuyên xảy ra tại các xã biên giới gây hoang mang cho người dân. Về yếu tố chủ quan, nhận thức của người dân về giảm nghèo còn hạn chế, nhiều hộ từ chối tham gia chương trình do sợ rủi ro. Đội ngũ cán bộ cơ sở thiếu kinh nghiệm, tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số chỉ đạt 30%. Sự phối hợp giữa huyện, xã và thôn bản còn lỏng lẻo, thiếu thống nhất trong triển khai. Nguồn vốn từ ngân sách trung ương phân bổ chậm, gây gián đoạn hoạt động.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững

Để nâng cao hiệu quả chính sách, huyện Hà Quảng cần triển khai đồng bộ 5 giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, xây dựng mô hình sinh kế bền vững dựa vào lợi thế địa phương như du lịch cộng đồng gắn với di sản văn hóa Tày Nùng. Thứ hai, tăng cường đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp địa phương, ưu tiên ngành nghề phù hợp như dệt thổ cẩm, trồng chè hữu cơ. Thứ ba, cải thiện hạ tầng giao thông nông thôn bằng việc huy động nguồn lực xã hội hóa. Thứ tư, nâng cao năng lực cán bộ cơ sở thông qua đào tạo nghiệp vụ và trao đổi kinh nghiệm. Cuối cùng, tăng cường giám sát xã hội bằng ứng dụng công nghệ thông tin và sự tham gia của cộng đồng. Các giải pháp này cần được lồng ghép với Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025.

3.1. Nâng cao năng lực cộng đồng và cán bộ cơ sở

Chương trình đào tạo tập trung vào 3 nhóm đối tượng: cán bộ xã, người có uy tín trong cộng đồng và hộ gia đình. Nội dung đào tạo bao gồm kỹ năng quản lý sản xuất, tiếp cận tín dụng, và ứng dụng công nghệ số. Đối với cán bộ xã, huyện tổ chức lớp bồi dưỡng chuyên môn 3 tháng/năm tại Học viện Nông nghiệp. Người có uy tín được tập huấn về tuyên truyền chính sách và hòa giải mâu thuẫn cộng đồng. Hộ gia đình tham gia khóa học 20 buổi về kỹ thuật canh tác cải tiến. Kết quả mong đợi là 100% cán bộ xã đạt chuẩn nghiệp vụ, 80% người dân áp dụng kiến thức vào sản xuất. Mô hình thí điểm tại xã Thượng Thôn cho thấy năng suất chè tăng 25% sau đào tạo.

3.2. Phát triển sản xuất gắn với thị trường

Huyện sẽ xây dựng 5 chuỗi giá trị sản xuất chủ lực: chè Shan tuyết, dê núi, gạo nếp, thổ cẩm, và du lịch cộng đồng. Mỗi chuỗi có doanh nghiệp đối tác ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Ví dụ, hợp tác xã chè xã Thượng Thôn liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu tại Thái Nguyên. Huyện hỗ trợ vốn ưu đãi 500 triệu đồng/chuỗi để mua máy chế biến, xây dựng thương hiệu. Chính sách ưu đãi thuế 10 năm cho doanh nghiệp chế biến nông sản địa phương. Mục tiêu là 60% sản phẩm nông sản được tiêu thụ qua kênh chính thức vào năm 2025. Mô hình này đã được thí điểm tại xã Lũng Nặm, doanh thu hộ gia đình tăng 40%.

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách giảm nghèo huyện Hà Quảng

Sau 5 năm triển khai, chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Hà Quảng đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 42% xuống 28%, thu nhập bình quân tăng 35%. Tuy nhiên, hiệu quả chưa đồng đều giữa các xã, đặc biệt vùng sâu vùng xa. Những nguyên nhân chính bao gồm thiếu vốn đầu tư dài hạn, công tác phối hợp lỏng lẻo, và nhận thức hạn chế của người dân. Để đảm bảo thành công, huyện cần tăng cường huy động nguồn lực xã hội, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, và cải thiện hệ thống giám sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp đề xuất, huyện có thể giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 15% vào năm 2025.

4.1. Đánh giá hiệu quả và bài học kinh nghiệm

Chính sách giảm nghèo bền vững tại Hà Quảng đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân. Những thành công đáng ghi nhận là mô hình trồng chè Shan tuyết tại xã Thượng Thôn, chương trình đào tạo nghề cho thanh niên, và hệ thống giám sát hộ nghèo bằng công nghệ số. Bài học kinh nghiệm quan trọng là cần gắn chính sách với lợi thế địa phương, tăng cường vai trò của cộng đồng, và đảm bảo nguồn vốn bền vững. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại tình trạng hỗ trợ trùng lặp, thiếu sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân. Những hạn chế này cần được khắc phục trong giai đoạn tiếp theo.

4.2. Định hướng phát triển giai đoạn 2025 2030

Giai đoạn tới, huyện Hà Quảng đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 15% vào năm 2030 thông qua 3 trọng tâm. Thứ nhất, phát triển kinh tế tuần hoàn dựa vào nông nghiệp hữu cơ và du lịch sinh thái. Thứ hai, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Thứ ba, tăng cường hợp tác quốc tế, huy động nguồn vốn ODA và doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào huyện. Các chính sách ưu đãi sẽ tập trung vào lĩnh vực giáo dục, y tế, và hạ tầng giao thông. Đồng thời, huyện sẽ xây dựng trung tâm đào tạo nghề cấp huyện đạt chuẩn quốc gia vào năm 2027.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện hà quảng tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm nghèo Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo.

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy khái niệm nghèo được thừa nhận rộng rãi là khái niệm được đưa ra tại Hội nghị bàn về chống đói nghèo trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan): “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [32, tr. Công trình này sử dụng khái niệm trên trong quá trình nghiên cứu. Bởi lẽ, khái niệm trên đã phản ánh được bản chất, đặc trưng cơ bản nhất của nghèo, đó chính là bộ phận dân cư “không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận”, đòi hỏi chính quyền cũng như cộng đồng phải có những hành động cụ thể để hỗ trợ, giúp đỡ. Cũng chính từ cách hiểu này mà chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam xây dựng những chương trình, kế hoạch cụ thể để trợ giúp, tạo ra những cơ hội, điều kiện nhằm giúp cho bộ phận cư dân này có cơ hội thoát nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.

Điều đó không chỉ thể hiện tính nhân văn mà còn góp phần đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển. Nghèo luôn gắn với những không gian, thời gian xác định, lệ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, chính vì vậy, mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi địa phương có những chuẩn nghèo khác nhau. 8 Chuẩn nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo, đồng thời là công cụ để đo lường và giám sát đói nghèo. Các quốc gia thường xây dựng chuẩn nghèo riêng và thường thấp hơn chuẩn nghèo do ngân hàng thế giới đưa ra.

* Chuẩn nghèo của Việt Nam được điều chỉnh theo không gian và thời gian. Về không gian, chuẩn nghèo của Việt Nam biến đổi theo trình độ phát triển KT - XH của 03 vùng sinh thái khác nhau, đó là: Vùng thành thị, vùng nông thôn đồng bằng và vùng nông thôn miền núi. Về thời gian, chuẩn nghèo được điều chỉnh theo trình độ phát triển KT - XH và nhu cầu con người trong từng giai đoạn cụ thể. Căn cứ vào mức sống thực tế và trình độ phát triển KT - XH, từ năm 1993 đến nay, nước ta đã 8 lần công bố tiêu chí cụ thể để đánh giá hộ nghèo và chuẩn nghèo đa chiều.

Chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 được áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định cụ thể như sau: + Hộ nghèo khu vực nông thôn: Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người /tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Hộ nghèo khu vực thành thị: Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người /tháng đủ từ 900.000 đồng trở xuống. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên.

9 Liên quan đến khái niệm nghèo còn có khái niệm nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo đa chiều, tái nghèo, giảm nghèo. Nghèo tuyệt đối: Nghèo tuyệt đối là không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản (cả nhu cầu lương thực cũng như nhu cầu phi lương thực) nhưng những nhu cầu cơ bản này lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của từng địa phương chứ không ổn định. Nghèo tương đối: Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng địa phương hay một nước. Nghèo đa chiều: Nghèo đa chiều là cách tiếp cận mới nhằm hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều cạnh khác.

Thay vì xem xét nghèo thu nhập, những ai không được khám chữa bệnh, không được đến trường, không được tiếp cận thông tin cũng được xác định là nghèo. Cái nghèo gắn liền với sự thiếu thốn thu nhập/chi tiêu mà còn là việc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản khác. Tái nghèo: Tái nghèo được hiểu là tình trạng một hộ gia đình đã thoát nghèo quay trở lại hộ nghèo trong một thời gian nhất định. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách xóa đói, giảm nghèo nhưng kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hằng năm còn cao; chênh lệch giàu và nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Giảm nghèo: Giảm nghèo là quá trình làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo (tỷ lệ phần trăm và số lượng người 10 nghèo giảm xuống. Theo đó, giảm nghèo là quá trình chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Ở Việt Nam, Chính phủ đã chỉ ra những nguyên nhân của tình trạng tái nghèo là một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ; cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân công, phân cấp chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở một số nơi chưa sâu sát. Ngoài ra một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo, thậm chí thay đổi chuẩn nghèo cũng gây ra hiện tượng tái nghèo.

Khái niệm giảm nghèo bền vững Có thể hiểu một cách chung nhất về giảm nghèo bền vững như sau: Giảm nghèo bền vững có thể được hiểu là quá trình thực hiện cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo hướng tới nâng cao năng lực tự thoát nghèo và không rơi trở lại trạng thái nghèo của người dân. Giải quyết vấn đề nghèo nói chung cần đảm bảo trên cả 02 phương diện số lượng và chất lượng. Về số lượng, giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một khoảng thời gian nhất định, cần phân biệt giữa số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, hai khái niệm này chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến như di chuyển dân cư, tái nghèo… Về chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi vào tình trạng nghèo đói, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo. Giảm nghèo bền vững thể hiện trên các khía cạnh sau: (1) Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm theo từng năm, từng 11 giai đoạn; điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt bao gồm các điều kiện sống cơ bản về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở, mặt khác người nghèo cũng được tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; người nghèo có nhiều cơ hội để tự vươn lên thoát nghèo và phát triển thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách giảm nghèo đồng bộ và có tính khả thi của Đảng và Nhà nước.

(2) Giảm nghèo bền vững là việc tạo điều kiện cho người nghèo có khả năng tiếp cận với 05 nội dung cơ bản: Y tế, giáo dục, điều kiện sống, việc làm, tiếp cận thông tin. Khi chúng ta giúp người nghèo có nhiều cơ hội được tiếp cận với 05 nội dung cơ bản trên thì có thể giảm nghèo một cách bền vững. Giảm nghèo bền vững thực sự cần thiết và có ảnh hưởng nhiều mặt đối với sự phát triển kinh tế xã hội nhằm tăng trưởng kinh tế, tạo công bằng xã hội, ổn định chính trị, phát triển xã hội. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, quyết định, chính sách quan trọng về công tác giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước và hệ thống chính sách đó không ngừng được bổ sung hoàn thiện.

Nhờ đó đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, an sinh xã hội cho người dân đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và chất lượng dân số của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số”, “Thực hiện có hiệu quả chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ bền vững; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn”. Giảm nghèo bền vững có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Nghèo là một quá trình liên quan đến toàn bộ các mối quan hệ kinh tế, xã hội, nếu không giải quyết vấn đề này sẽ nảy sinh các hiện tượng gây mất ổn định 12 xã hội ảnh hưởng xấu tới chính trị. Phân hóa giàu nghèo đến một mức độ nào đó sẽ trở thành phân hóa giai cấp, xung đột xã hội, từ đó sẽ làm mất ổn định chính trị xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ