Chương 1, nghiên cứu đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương này trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan để làm nền tảng cho nghiên cứu, bao gồm: khái niệm về hội chợ, triển lãm thương mại, chất lượng dịch vụ, hành vi và quyết định mua của tổ chức và mối quan hệ giữa các khái niệm, từ đó đặt ra các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình phục vụ cho quá trình nghiên cứu. Khái niệm về Hội chợ, triển lãm thương mại Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ (Luật Thương mại, 2005). Kinh doanh dịch vụ Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân kinh doanh dịch vụ này cung ứng dịch vụ tổ chức hoặc tham gia Hội chợ, triển lãm thương mại cho thương nhân khác để nhận thù lao dịch vụ tổ chức Hội chợ, triển lãm thương mại (Luật Thương mại, 2005).
Hội chợ, triển lãm thương mại có đặc điểm là có tính xác định về thời gian, địa điểm và nội dung, có nhà cung ứng dịch vụ và có khách hàng sử dụng hoặc mua dịch vụ đó và có sự tham gia của nhiều thương nhân, thông qua hội chợ doanh nghiệp có cơ hội quảng bá hình ảnh, thương hiệu và sản phẩm, tìm kiếm khách hàng để xúc tiến mua bán hàng hóa và giao kết hợp đồng. Tổ chức hội chợ, triển lãm là một loại hình dịch vu nên cũng có các đặc điểm như các loại hình dịch vụ khác. Dịch vụ có những đặc điểm riêng giúp phân biệt với hàng hóa hữu hình, sự khác biệt này được thể hiện ở 4 đặc điểm cơ bản như: Tính vô hình (Intangible); Tính không đồng nhất (Heterogeneity); Tính không 7 thể tách rời (Inseparability) và tính không thể lưu trữ (Hinghly perishable) (Parasuraman và cộng sự, 1985). Lý thuyết về hành vi mua của tổ chức (B2B) 2.
Đặc điểm của thị trường tổ chức Theo Kotler (1967), thị trường tổ chức (B2B) là thị trường bao gồm tất cả những tổ chức mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng vào quá trình sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ khác để bán, cho thuê hay cung ứng cho những khách hàng khác. Về cơ bản thị trường tổ chức cũng giống như thị trường người tiêu dùng, cả hai thị trường này đều bao gồm những người đóng vai trò mua và đưa ra những quyết định mua để thỏa mãn các nhu cầu. Nhưng trên nhiều phương diện khác, thị trường tổ chức khác hẳn với những thị trường tiêu dùng. Những khác biệt chủ yếu nằm trong cấu trúc thị trường và đặc tính về nhu cầu, bản chất của tổ chức mua hàng, các loại quyết định mua hàng và quá trình ra quyết định mua của tổ chức (Kotler và Armstrong, 2012).
Thị trường tổ chức có một số đặc điểm khác so với thị trường người tiêu dùng (B2C): Ít người mua hơn nhưng khối lượng mua lớn hơn so với thị trường người tiêu dùng; nhu cầu của người mua ở thị trường tổ chức xuất phát từ nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng; quan hệ giữa khách hàng và nhà cung ứng rất chặt chẽ và có mối quan hệ gắn bó lâu dài; người mua tập trung theo vùng địa lý; nhu cầu phát sinh; nhu cầu không co giãn (hệ số co dãn của cầu theo giá thấp); nhu cầu có tính biến động mạnh (nhu cầu đối với tư liệu sản xuất có xu hướng dễ biến động hơn so với nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Một tỉ lệ phần trăm nhỏ của sự gia tăng nhu cầu của người tiêu dùng có thể dẫn đến một tỷ lệ gia tăng lớn trong nhu cầu tư liệu sản xuất; người mua ở thị trường tổ chức có tính chuyên nghiệp hơn so với người tiêu dùng họ luôn có những kiến thức chuyên sâu về sản phẩm, dịch vụ; quyết định mua của khách hàng tổ chức 8 thường phức tạp, quá trình ra quyết định lâu hơn (Kotler và Armstrong, 2012). Từ những đặc điểm trên cho thấy rằng có một số vấn đề cần lưu ý như sau: trong thị trường doanh nghiệp, do mối quan hệ chặt chẽ giữa khách hàng và nhà cung cấp thường dẫn đến một hành động đáp ứng nhu cầu khách hàng đôi khi chỉ có lợi đối với một người mua thôi. Khi sản phẩm mà càng theo nhu cầu của khách hàng thì sẽ càng rủi ro cho nhà cung cấp trong việc phụ thuộc vào khách hàng và khả năng đàm phán của nhà cung cấp cũng sẽ ở thế yếu hơn.
Nếu càng đáp ứng nhu cầu của một khách hàng thái quá nó sẽ làm xấu đi mối quan hệ của nhà cung cấp với khách hàng khác (Kotler, 1967). Hành vi mua và quyết định mua của tổ chức Theo Wind và Thomas (1980), hành vi mua của tổ chức là quá trình bao gồm có nhiều người tham gia. Lượng mua các đơn vị sản phẩm thay đổi theo nhu cầu đối với từng chủng loại sản phẩm, loại hình mua hàng và từng loại tổ chức. Quyết định mua liên quan đến việc đánh giá lựa chọn và thường bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm, những quy trình và mục tiêu của tổ chức.
Quá trình ra quyết định mua của tổ chức Theo Robinson (1967), quá trình ra quyết định mua của tổ chức bao gồm 8 bước: (1) nhận diện nhu cầu, (2) tìm kiếm thông tin, (3) phát triển quy cách sản phẩm, (4) tìm kiếm nhà cung cấp, (5) phân tích đề xuất, (6) đánh giá các yếu tố, (7) quyết định đặt hàng (8) phản hồi và đánh giá. Nhận diện nhu cầu: Quá trình mua bắt đầu khi ai đó trong doanh nghiệp nhận ra một vấn đề hay nhu cầu được đáp ứng bằng việc mua một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể. Nhận thức vấn đề có thể là kết quả từ tác nhân bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp. Sau khi nhận thức nhu cầu, người mua tiến hành mô tả 9 tổng quát về nhu cầu với việc xác định các đặc điểm và số lượng của mặt hàng có nhu cầu.
Đối với mặt hàng thông thường giai đoạn này không gặp trở ngại nhiều, đối với mặt hàng phức tạp, người mua phải làm việc với những người có chuyên môn, người sử dụng, cố vấn để có được đặc điểm thứ cần mua. Họ phải xác định tầm quan trọng của độ tin cậy, độ bền, giá cả và những thuộc tính mong muốn khác. Tìm kiếm thông tin: Sau khi nhận diện nhu cầu giai đoạn tiếp theo trong quá trình mua của tổ chức là tìm kiếm thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có nhu cầu một cách rộng rãi và quy trình đánh giá tương tự như những người tiêu dùng sử dụng khi tham gia vào mua hàng. Phát triển quy cách sản phẩm: Bước tiếp theo, các tổ chức mua hàng sẽ phát triển quy cách kỹ thuật của mặt hàng, thường là với sự hỗ trợ phân tích giá trị sản phẩm của nhóm kỹ thuật.
Tìm kiếm nhà cung cấp: Giai đoạn tổ chức mua cố gắng tìm kiếm những nhà cung cấp tốt nhất cho sản phẩm, dịch vụ của mình. Trong đó các yếu tố như thương hiệu, giá cả, chất lượng sản phẩm từ nhà sản xuất sẽ được tổ chức xem xét tới. Phân tích các tiêu chuẩn: Ở giai đoạn này, người mua sẽ yêu cầu nhà cung cấp đủ tiêu chuẩn đưa ra các đề xuất chào hàng. Một số nhà cung cấp sẽ gửi catalog hoặc cử nhân viên bán hàng đến giao dịch.
Một số trường hợp khi sản phẩm phức tạp hoặc có giá cao người mua thường sẽ yêu cầu các đề xuất chào hàng bằng văn bản hoặc thuyết trình chính thức từ các nhà cung ứng tiềm năng. Đánh giá các yếu tố: Giai đoạn khi người mua xem xét các đề xuất chào hàng và chọn lựa một hoặc nhiều nhà cung ứng. Trong quá trình chọn lựa nhà cung ứng, trung tâm mua hàng thường thảo ra bản kê các tiêu chuẩn mong muốn được các nhà cung ứng đáp ứng và tầm quan trọng tương đối của những tiêu 10 chuẩn đó, bao gồm cả chất lượng sản phẩm và dịch vụ, độ tin cậy của thời gian giao hàng, hành vi đạo đức của doanh nghiệp, truyền thông trung thực và giá cả cạnh tranh. Thành viên của trung tâm mua sắm sẽ xếp hạng các nhà cung ứng dựa trên các tiêu chuẩn này và chọn ra nhà cung ứng tốt nhất.
Quyết định đặt hàng: Giai đoạn này, người mua sẽ soạn thảo đơn đặt hàng cuối cùng, đưa ra các chi tiết kỹ thuật, khối lượng cần dùng, thời hạn giao hàng, các chính sách về trả lại hàng, bảo hành. Trong trường hợp bảo trì, sửa chữa và vận hành người mua có thể sử dụng hợp đồng khung chứ không đặt hàng định kỳ. Hợp đồng khung tạo ra mối quan hệ dài hạn, trong đó người bán hứa hẹn tái cung cấp cho người mua khi cần thiết với mức giá thỏa thuận trong một khoảng thời gian quy định. Đánh giá kết quả thực hiện: Ở giai đoạn này, người mua xem xét lại các kết quả thực hiện với nhà cung cấp.
Người mua có thể liên hệ với người sử dụng nhờ họ đánh giá mức độ hài lòng. Việc đánh giá kết quả giúp người mua cân nhắc việc mua tiếp, mua lại có thay đổi hoặc từ chối người bán. Công việc của người bán là giám sát các yếu tố tương tự được sử dụng bởi người mua để đảm bảo rằng người bán tạo ra sự hài lòng giống như mong đợi của người mua. Tất cả 8 giai đoạn này đều được áp dụng trong tình huống mua phục vụ nhiệm vụ mới và một số giai đoạn có thể được bỏ qua trong hai tình huống mua sắm khác, đó là mua lặp lại có thay đổi và mua lặp lại không thay đổi và được vận dụng theo 3 tình huống mua là: mua mới, mua lặp lại trực tiếp và mua lặp lại có thay đổi.
- Mua mới: Là tình huống mua hàng, trong đó tổ chức lần đầu tiên mua sản phẩm, dịch vụ, tình huống này đòi hỏi khách hàng phải thu thập nhiều thông tin liên quan đến sản phẩm dịch vụ. Đây là tình huống mua chứa đựng nhiều rủi ro đến từ cả trong nội bộ của tổ chức lẫn yếu tố khách quan bên ngoài có thể từ nhà cung cấp hoặc người mua. 11 - Mua lặp lại không thay đổi: Là tình huống mua hàng mà tổ chức đặt hàng lại theo thói quen mà không có bất kỳ sự điều chỉnh nào. Điều này thường được bộ phận cung ứng đặt hàng như thường lệ.