phần mở đầu, phần triển khai cũng tùy từng loại văn bản mà có cách giải quyết khác nhau. Đối với tác phẩm văn học, phần triển khai là phần thể hiện nhân vật trong môi trường hoạt động, là phần giải quyết các mâu thuẫn kịch tính. Đối với tác phẩm nghị luận, phần này giải quyết những vấn đề đã nêu ở phần mở đầu, được gọi là phần thân bài. Đối với các công trình khoa học, đây gọi là phần giải quyết vấn đề, triển khai bàn luận, chứng minh bằng các luận điểm, luận cứ, luận chứng khoa học.
Phần này kết cấu có nhiều chương, mục, phần. * Phần kết thúc: Phần kết thúc là phần tiểu kết chương, kết luận, kết thúc vấn đề của các công trình khoa học. Phần này thường tóm lược, khái quát những vấn đề đã được giải quyết ở phần triển khai. Có khi phần này không đóng kết vấn đề mà mở ra hoặc để lửng.
Khi xem xết cấu trúc nội bộ của các kết cấu văn bản, phải nắm chắc các mối quan hệ phong phú giữa các đơn vị và kết cấu văn bản. ĐẶC ĐIỂM VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm văn bản hành chính Văn bản có thể hiểu một cách khái quát là phương tiện để ghi tin và truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ nhằm thực hiện mục đích giao tiếp nhất định. cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở những quy định chung, quyết định quy phạm của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc quy định quy phạm của cơ quan mình nhằm giải quyết các công việc cụ thể.
Bao gồm: (1) Quyết định (cá biệt): là loại văn bản dùng để quy định các vấn đề về chế độ, chính sách, tổ chức bộ máy, nhân sự và giải quyết những vấn đề khác dưới hình thức áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật. Việc áp dụng này chỉ được thực hiện một lần cho một cá nhân, một sự việc hay một vấn đề cụ thể. Do đặc điểm nói trên, chủ thể ban hành quyết định là thủ trưởng các cơ quan quản lý của nhà nước (Thủ tướng, bộ trưởng, hoặc thủ trưởng cơ quan ngang bộ, UBND các cấp), thủ trưởng các cơ quan hành chính sự nghiệp, thủ trưởng các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp dân doanh. (2) Chỉ thị (cá biệt): là loại văn bản dùng để giải quyết những công việc mang tính chất cá biệt của các cơ quan quản lý nhà nước.
Chỉ thị (cá biệt) do Thủ tướng, bộ trưởng, hoặc thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành. Văn bản hành chính thông thường Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang tính thông tin điều hành nhằm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc dùng để giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc trong cơ quan, tổ chức. Hệ thống loại văn bản này rất đa dạng và phức tạp, có thể phân thành 2 loại chính: - Văn bản hành chính thông thường không có tên loại: Công văn (hành chính): là văn bản dùng để giao dịch về công việc hành chính giữa các cơ quan, tổ chức hoặc giữa cơ quan tổ chức với công dân. Phạm vi sử dụng của công văn rất rộng, liên quan đến các lĩnh vực hoạt động thường xuyên của cơ quan tổ chức.
- Văn bản hành chính thông thường có tên loại: (1) Thông cáo: là văn bản do các cơ quan quản lý nhà nước trung ương dùng để công bố với nhân dân một quyết định hoặc một sự kiện quan trọng về đối nội, đối ngoại của quốc gia. Thông cáo do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành. (2) Thông báo: là văn bản dùng để thông tin các vấn đề trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân… để các đối tượng có liên quan biết hoặc thực thi. (3) Báo cáo: là văn bản phản ánh toàn bộ hoạt động và những kiến nghị của mình hoặc tường trình về một vấn đề, một công việc cụ thể nào đó hoặc xin ý kiến chỉ đạo.
(4) Chương trình: là văn bản để xác định trọng tâm, nội dung, giải pháp trong một khoảng thời gian nhất định và công tác tổ chức thực hiện của một đơn vị về một chủ trương công tác. (5) Hướng dẫn: là văn bản giải quyết chỉ dẫn cụ thể việc tổ chức thực hiện văn bản hoặc chủ trương của đơn vị hoặc của cơ quan lãnh đạo trên. (6) Kế hoạch: là văn bản dùng để xác định mục đích yêu cầu, chỉ tiêu của nhiệm vụ cần hoàn thành trong khoảng thời gian nhất định và các biện pháp về tổ chức, nhân sự, cơ sở vật chất cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đó. (7) Tờ trình: là văn bản dùng để thuyết trình tổng quát về một đề án, một vấn đề, một dự thảo văn bản để cấp trên xem xét, quyết định.
(8) Đề án: là văn bản dùng để trình bày hệ thống về một kế hoạch, giải pháp, giải quyết một nhiệm vụ, một vấn đề nhất định để cấp có thẩm quyền phê duyệt. (9) Quy định: là văn bản xác định các nguyên tắc, tiêu chuẩn, thủ tục và chế độ cụ thể về một lĩnh vực công tác nhất định hoặc trong hệ thống các cơ quan chuyên môn có chức năng, nhiệm vụ. (10) Quy chế: là văn bản xác định các nguyên tắc, trách nhiệm, quyền hạn, chế độ và lề lối làm việc của tổ chức cơ quan hoặc một lĩnh vực công tác nhất định. (11) Phương án: là loại văn bản nêu dự kiến về cách thức, trình tự tiến hành công việc trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định.
(12) Biên bản: là văn bản ghi các ý kiến trong cuộc họp hoặc lập biên bản về một sự kiên đặc biệt xảy ra. (13) Hợp đồng: là văn bản dùng để ghi lại sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên bằng văn bản trong đó các bên ký với nhau lập một quan hệ pháp lý về quyền lợi và nghĩa vụ. (14) Công điện: là loại văn bản đặc trưng dùng để truyền đạt nhanh một mệnh lệnh, một nội dung công việc đến cơ quan, đơn vị, tổ chức để thực hiện trong trường hợp khẩn cấp. (15) Giấy chứng nhận: là văn bản dùng để xác nhận một sự việc, một đối tượng có liên quan đến hoạt động của cơ quan, doanh nghiệp.
(16) Giấy ủy nhiệm: là loại văn bản dùng để ghi nhận sự thỏa thuận giữa người có quyền (hoặc người đại diện theo pháp luật) và người được ủy nhiệm. Theo đó, người được ủy nhiệm thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ thay cho người có quyền (hoặc người đại diện theo pháp luật). (18) Giấy giới thiệu: là loại văn bản cấp cho đại diện được ủy quyền để liên hệ, giao dịch, giải quyết công việc. Thường dùng mẫu in sẵn.
(19) Giấy nghỉ phép: là loại văn bản cấp cho cán bộ, nhân viên được nghỉ phép theo luật lao động để giải quyết các công việc cá nhân. (20) Giấy đi đường (công lệnh): là loại văn bản cấp cho đại diện được đi công tác để liên hệ, giải quyết công việc, chỉ đạo kiểm tra chương trình công tác nhằm xác định hoặc chứng nhận người đó đã đến địa điểm công tác… Thường dùng mẫu in sẵn. (21) Giấy biên nhận hồ sơ: là loại văn bản dùng để xác nhận số lượng và loại hồ sơ, giấy tờ hoặc do cơ quan hoặc cá nhân khác gửi đến. (22) Phiếu gửi: là loại văn bản dùng để gửi tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác.
Phiếu gửi không thay thế cho công văn. (23) Phiếu chuyển: là loại văn bản dùng để chuyển hồ sơ, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đến bộ phận khác để tiếp tục giải quyết hoặc do chủ thể chuyển không có thẩm quyền giải quyết. Đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính a. Đặc trưng của ngôn ngữ văn bản hành chính Ngôn ngữ trong văn bản quản lý nhà nước phải đảm bảo phản án đúng nội dung cần truyền đạt, sáng tỏ các vấn đề, không để người đọc, người nghe không hiểu hoặc hiểu nhầm, hiểu sai.
Do đó, ngôn ngữ trong văn bản quản lý nhà nước có đặc trưng sau: * Tính chính xác, rõ ràng: Đây là một đặc điểm quan trọng trong văn bản hành chính. Tính chính xác trong cách dùng từ, đặt câu phải đi đôi với tính minh bạch, rõ ràng trong kết cấu văn bản để đảm bảo tính xác định, tính đơn nghĩa của nội dung, chỉ cho phép một cách hiểu, không gây hiểu lầm, câu cú phải ngắn gọn, không rườm rà. * Tính phổ thông đại chúng: Văn bản phải được viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu, tức là bằng những ngôn ngữ phổ thông, các yếu tố ngôn ngữ nước ngoài đã được Việt hóa tối ưu. “Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu.
Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phải được định nghĩa trong văn bản”. Việc lựa chọn ngôn ngữ trong quá trình soạn thảo văn bản hành chính là một việc quan trọng. Cần lựa chọn ngôn ngữ thận trọng, tránh dùng các ngôn ngữ cầu kỳ, tránh sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt suồng sã. * Tính khuôn mẫu: Khác với các phong cách ngôn ngữ khác, ngôn ngữ trong văn bản thuộc phong cách hành chính có tính khuôn mẫu ở mức độ cao.
Văn bản cần được trình bày, sắp xếp bố cục nội dung theo các khuôn mẫu có sẵn chỉ cần điền nội dung cần thiết vào chỗ trống. Tính khuôn mẫu đảm bảo cho sự thống nhất, tính khoa học và tính văn hóa của công văn giấy tờ. Tính khuôn mẫu còn thể hiện trong việc sử dụng từ ngữ hành chính – công vụ, các quán ngữ kiểu: “Căn cứ vào…”, “Theo đề nghị của…”, “Các… chịu trách nhiệm thi hành…. này”…, hoặc thông qua việc lặp lại những từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp.
Tên gọi tổ chức cơ quan đoàn thể: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân… Tên người và chức trách trong quan hệ hành chính: Thủ tướng, Nguyên Bộ trưởng…, nguyên cáo, bị cáo, bị can, đương sự, chánh văn phòng… Tên gọi các loại văn bản hành chính: công văn, luật, văn bản dưới luật, hợp đồng, biên bản ghi nhớ.