mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lòi chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả ”. Báo chí chuyên biệt và chương trình truyền hình chuyên biệt Sự phát triển để trở thành đa dạng hóa thông tin đồng thời với chuyên biệt hóa đối tượng tiếp nhận thông tin vừa là kết quả có tính lô-gíc của việc tăng nhanh số lượng, chủng loại sản phẩm báo chí truyền thông, vừa là hệ quả tất yếu của những tác động của các yêu tô kinh tê, chính trị, xã hội và kỹ thuật - công nghệ trong quá trình thực hiện chính sách đổi mới ở Việt Nam. Sự ra đời của Luật Báo chí năm 1990 và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam "phát triển đi đôi với quản lý báo chí" đã tạo ra hành lang pháp lý cùng một không gian tự do rộng lớn cho sự phát triến mở rộng phạm vi và năng lực thông tin của hệ thống báo chí truyền thông quốc gia. Đen lượt nó, chính sự phát triển báo chí lại đặt ra yêu cầu, khuyến khích và thúc đẩy việc mở rộng nguôn thông tin - một điêu kiện vô cùng quan trọng trong tác nghiệp của nguời làm báo.
Trên phạm vi quốc tế, sự mở rộng các quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao nhà nước cũng như nhân dân kéo theo việc mở rộng khai thác, trao đổi thông tin báo chí dưới nhiều hình thức khác nhau như: thông qua trao đổi tin tức thông tấn, mở thêm mạng lưới phóng viên thường trú nước ngoài, trao đối các đoàn nhà báo đi thăm quan, nghiên cứu, trao đổi các sản phẩm báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình V. Sự mở rộng nguồn tin tất yếu dẫn đến sự đa dạng hóa thông tin chuyển tải trên hệ thống báo chí. Trên các trang báo, tạp chí, trong các chương trình phát thanh, truyền hình, các trang thông tin điện tử, lượng thông tin bao quát toàn diện kể từ không gian địa lý, các lĩnh vực đời sống xã hội, đến các chiều hướng, tính chất, các tầng nấc ý nghĩa chính trị - xã hội. Đối với từng sản phẩm cụ thể, chiều hướng phát triển chung là ngày càng chuyên biệt hóa, thích ứng với nhu cầu, thị hiếu của từng loại đối tượng cụ thể.
Việc phân biệt các loại đối tượng vẫn theo những tiêu chí chung như: lứa tuổi, nghề nghiệp, địa lý, trình độ văn hóa, đặc điểm thị hiếu, tuy nhiên được tính tới những yếu tố, điều kiện, yêu cầu, mục đích tác động thông tin. Theo chiều hướng đó, ở mức độ nhất định đã xuất hiện hiện tượng cạnh tranh và trên thực tế đã có nhiều sản phẩm báo chí đã tự điều chỉnh mô hình thông tin để tìm kiếm khai thác công chúng, tạo cơ sở cho sự tồn tại, phát triển Ngày nay, nhu cầu thông tin của công chúng truyền hình đã và đang tách thành các cụm, nhóm công chúng khác nhau. Theo đó, mỗi nhóm công chúng có nhu cầu, sở thích xem các chương trình truyền hình theo hướng chuyên biệt phù hợp với nhu cầu thông tin của mình. Vì thế các Đài truyền hình hiện nay, ngoài sản xuất các chương tình có tính quảng bá chung đã theo kịp sự thay đổi nhu càu trên của công chúng bằng cách sản xuất các chương trình truyền hình có nội dung chuyên biệt.
Hiện nay ở Việt Nam, từ đài trung ương đên địa phương đã có nhiêu chương trình truyền hình, kênh truyền hình chuyên biệt theo nhóm nội dung về văn hóa, giao dục, kinh tế hay những chương trình theo nhóm đối tượng khác nhau như thiếu nhi, thanh thiếu niên, người cao tuổi, DTTS, dành cho đồng bào ở nước ngoài. Cụ thể, VTV - Đài THVN hiện nay có kênh VTV2 chuyên về Khoa học giáo dục, kênh VTV6 là kênh truyền hình cho giới trẻ, Kênh VTV5 là kênh truyền hình dành cho đồng bào DTTS, kênh VTV4 dành cho đồng bào xa tổ quốc. Đối với các Đài PT -TH địa phương, các tỉnh cũng có những chương trình truyền hình dành riêng cho các đối tượng khác nhau ví dụ như Đài PT - TH Nghệ An có chương trình truyền hình tiếng Thái, Tiếng H’mông, Đài PT - TH Tuyên Quang có chương trình truyền hình tiếng Dao, Tiếng Thái, tiếng H’mông. Như vậy, chương tình truyền hình chuyên biệt là chương trình truyền hình có nội dung đi theo một chủ thể nhất định và phục vụ cho nhóm đối tượng cụ thể.
Chương trình truyền hình tiếng H’mông Theo như các thông tin, định nghĩa từ luận điểm trên, có thể thấy: Chương trình truyền hình H’mông có thể hiểu là loại chương trình chuyên biệt, sử dụng ngôn ngữ là tiếng H’Mông để truyền tải thông tin phục vụ cho đồng bào dân tộc H’mông là chủ yếu. Qua đây, có thể thấy chương trình truyền hình tiếng H’mông là một chương trình truyền hình có đối tượng khán giả chuyên biệt. Chương trình sử dụng ngôn ngữ là tiếng H’mông làm ngôn ngữ chính, chứ không phải ngôn ngữ nào khác. Theo đó, chương trình truyền hình tiếng H’mông phải đáp ứng một số yêu cầu sau: Thứ nhất: Mang bản chất, đặc điểm chung của các chương trình truyền hình.
Trong đó có một số yếu tố quan trọng như chủ đề, thời lượng, nội dung, hình thức thể hiện, tính định kỳ. Thứ hai: Sử dụng tiêng H’mông là ngôn ngữ chính trong toàn bộ chương trình: Từ lời dẫn của phát thanh viên đến lời bình trong chương trình, nội dung các phát biểu của nhân vật. Chương trình hình tiếng H’mông hướng đến đối tượng công chúng là người dân tộc H’mông là chính. Qua chương trình nhằm cho công chúng người H’mông dễ dàng tiếp nhận được được thông tin, giải trí cũng như những thông điệp mà cơ quan báo chí muốn truyền tải.
Vài nét về dân tộc thiểu số và cộng đồng ngưòi H’mông vùng Tây Bắc 1.1 Vài nét chung về dân tộc, dân tộc thiểu số *Khái niệm “dân tộc” Cũng như nhiều hình thức công đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất. Một ỉà: Dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc.
Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quôc gia. Một quốc gia có thể có nhiều dân tộc. Hai là: Dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định họp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, có chung ngôn ngữ và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - Quốc gia dân tộc.
*Dân tộc thiểu sấ Đây là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Các học giả phương Tây quan niệm rằng đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học dùng đê chỉ những dân tộc có dân sô ít. Trong một số trường hợp, người ta đồng ý ý nghĩa “DTTS” với “dân tộc lạc hậu”; “dân tộc chậm tiến”. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của gia cấp thống trị trong mỗi quốc gia.
Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, khái niệm “DTTS” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc. Bởi địa vị, trình độ phát triển của dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện KT - CT - XH và lịch sử của mồi dân tộc.2 Vài nét về dân tộc H’mông Dân tộc H’mông cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Cao Bằng, Nghệ An.[ Nguồn trang web của ủy ban dân tộc http://cema. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người H’mông ở Việt Nam có dân số 1.189 người, đứng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.
Người H’mông cư trú tập trung đông nhất tại một số tỉnh: Hà Giang (231.464 người, chiếm 31,9% dân số toàn tỉnh và 21,7% tổng số người H’mông tại Việt Nam), Điện Biên (170.648 người, chiếm 34,8% dân số toàn tỉnh và 16,0% tổng số người H’mông tại Việt Nam), Sơn La (157.253 người, chiếm 14,6% dân số toàn tỉnh và 14,7% tổng số người H’mông tại Việt Nam), Lào Cai (146.147 người, chiếm 23,8% dân số toàn tỉnh và 13,7% tổng số người H’mông tại Việt Nam),. Nguồn sống chính của đồng bào H’mông là làm nương rẫy, trồng ngô, trồng lúa, ở một vài nơi có ruộng bậc thang. Cây lương thực chính là ngô và lúa nương. Trang phục của người H’mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt.
Một bộ y phục cổ truyền của phụ nữ gồm có: váy, áo xẻ ngực, tạp dề trước và sau, xà cạp quấn chân. Đồng bào H’mông cho rằng những người cùng dòng họ là anh em cùng tổ tiên, có thể đẻ và chết trong nhà nhau, phải luôn luôn giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cưu mang nhau trong nguy co hoạn nạn. Mỗi dòng họ cư trú quây quần thành một cụm, có một trưởng họ đảm nhiệm công việc chung. Hôn nhân của người H’mông theo tập quán tự do kén chọn bạn đời.
Những người cùng dòng họ không được lấy nhau. Tết cổ truyền của người H’mông tổ chức vào tháng 12 dương lịch. Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc H'mông được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cùng với 53 dân tộc anh em, người H’mông luôn là một phần của sự thống nhất khối đại đoàn kết dân tộc và góp phần làm phong phú cho nền văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Dân tộc H’mông thuộc nhóm ngôn ngữ: H’mông - Dao. Người H’mông (từ Quí Châu - Vân Nam - Quảng Tây - Trung Quốc) di cư vào Việt Nam cách nay khoảng 300 năm, bằng nhiều đợt, rải rác suốt thời gian dài cho tới cuối thế kỷ XIX.