CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ VÀ VAI TRÒ BÁO CHÍ VỚI TCC DNNN 1. Báo chí, thông tin báo chí và sự giám sát phản biện của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm báo chí và thông tin báo chí Theo giáo trình Cơ sở lý luận báo chí truyền thông c ủa các tác gi ả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2004), báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng vào có khả năng quyết định, tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng. Báo chí là một hiện tượng đặc biệt phổ biến tác động từng ngày, từng giờ vào xã hội.
Quy mô phạm vi, hình thức hoạt động của báo chí ngày càng mở rộng, thu hút sự quan tâm chú ý của đại bộ phận xã hội, trở thành một phương tiện có sức mạnh được sử dụng vào các mục đích rất khác nhau như: nhân đạo, kinh doanh, kinh tế, chính trị và quân sự, không có một đảng chính trị, một tổ chức lực lượng kinh tế xã hội nào không sử dụng báo chí nh ư m ột phương tiện thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của mình. Trong xã hội hiện đại, báo chí ngày càng thể hiện vai trò, v ị th ế đ ặc biệt quan trọng. Báo chí đã và đang đóng góp hết s ức to l ớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã h ội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường truyền thông số hiện nay, báo chí và truyền thông nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng.
Báo chí là loại hình hoạt động thông tin mang tính chính trị - xã hội. Khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ tiếng Latinh informetio, gốc của từ tiếng Anh information. Hai ông Philippe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “bùng nổ truyền thông” giải thích rằng: Khái niệm này có 14 liên quan đến nét đặt trưng Roma, biểu hiện sự mong mu ốn gi ảng d ạy, truyền đạt. Nó có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là nói v ề m ột hành đ ộng c ụ thể để tạo ra một hình dạng “forme”, thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng.
Hai hướng nghĩa này cùng t ồn t ại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự truyền đạt kiến thức và truyền đạt, đây là tiêu biểu cho sự phát minh của tiếng Latinh. Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức. Hiện nay, khi khoa học và công nghệ phát triển đến trình đ ộ cao, trong các lĩnh vực khoa học, thuật ngữ “thông tin” cũng có những cách hiểu khác nhau khi sử dụng đến nó. Trong báo chí được dùng để nói về chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả, câu chuyện kể, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của thực tại.
Trong lý luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng đang t ồn t ại hai cách hiểu: Một là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng t ạo t ừ hi ện thực cuộc sống. Hai là sự loan báo cho mọi người biết. Theo cách hiểu thứ nhất, thông tin thể hiện tính chất khởi đầu, khởi điểm (tương t ự v ới khái niệm hình tượng trong nghệ thuật, hàng hóa trong kinh t ế - chính tr ị…). Đây chính là đặc trưng cơ bản của báo chí nói chung.
Còn theo cách hi ểu thứ hai là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh. Như vậy, thì thông tin cũng chính là chức năng của báo chí (theo nghĩa là sử dụng phương ti ện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo). Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình. Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng.
Nó là “dụng cụ làm việc” của nhà báo, với sự giúp đỡ của dụng cụ đó, những công việc đa dạng và quan trọng được thực hiện. Có th ể coi những công việc của báo chí như một hệ thống xã hội đặc biệt. 15 Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều cách sử dụng khác nhau. Có trường hợp, các nhà báo sử dụng nó đ ể bi ểu th ị tính ch ất của các thông báo ngắn, không kèm theo lời phân tích, bình luận về một sự kiện mới (như tin văn hay tin ngắn).
Trong trường hợp khác, nó được dùng để chỉ tất cả các thể loại được dùng để ghi chép những sự kiện, hiện tượng mới như: tin tức, tường thuật, phỏng vấn… Nhiều khi một tin ngắn cũng được gọi là “thông tin”. Nhưng bất cứ tác phẩm báo chí nào (tin vắn, phim tài liệu, tin của đài phát thanh…) cũng đều chứa đựng thông tin. Tóm lại, “thông tin” là cách gọi truyền thống trong nghề báo, theo nghĩa chính xác nhất của từ này thì đó là “thông tin sự kiện”. Ngoài ta, trên báo, trong chương trình phát thanh hay trên vô tuyến truyền hình còn có “thông tin lý luận”, “thông tin gi ải thích”, “thông tin nghệ thuật”v.v… [45] Thuật ngữ “thông tin” còn có cách hiểu rộng hơn.
Để hiểu thuật ngữ này một cách đầy đủ, đòi hỏi phải xem xét từ sự ứng dụng riêng biệt. Chúng ta có thể gọi “toàn bộ các tác phẩm”, hay “hệ thống những tin tức”… là thông tin. Như vậy, thuật ngữ “thông tin” nhiều khi còn được hiểu như một danh từ tập hợp. Khi xem xét khái niệm thông tin trong hệ thống khái niệm của lí luận báo chí thì cách hiểu như vậy không phù h ợp, vì ý nghĩa riêng của thuật ngữ “thông tin” thường được sử dụng theo thói quen hay theo kinh nghiệm.
Ví dụ, khi nghe đài hay đọc báo mà người đọc không thu nhận được điều gì mới mẻ, họ sẽ nói: “tác phẩm nghèo thông tin” thậm chí là “không có thông tin”. Điều này dường như vô lý. Nhiệm vụ của báo chí là mang thông tin đến cho công chúng nhưng t ại sao h ọ l ại không tìm th ấy chúng trong tác phẩm? Thế nhưng đây là điều có thật khi thông tin không phản ánh được thực tế cuộc sống, không thỏa mãn nhu c ầu của công chúng. 16 Ở dạng hoàn chỉnh, khái niệm thông tin chứa đựng nội dung rất phong phú; nó có quan hệ trực tiếp đến chức năng và hi ệu qu ả c ủa công tác báo chí, đến “nguyên tắc” cung cấp thông tin, đ ến nh ững yêu c ầu nghiệp vụ báo chí và những nguyên tắc tác động lẫn nhau của các mặt nói trên.
Khái niệm “thông tin” là nền tảng của công tác báo chí, cho nên khi nghiên cứu lí luận báo chí cần chú ý đến ý nghĩa của thuật ngữ này. Nhận thức về thông tin phát triển song song v ới nh ận th ức v ề ch ức năng và đối tượng phản ánh của báo chí. Muốn có sự nhận thức đúng đắn về thông tin, cần xác định được mục đích hoạt động của báo chí, đồng thời phải nêu lên định hướng có tính nguyên tắc cho những hoạt động th ực tiễn của một nền báo chí. Sự định hướng rõ ràng sẽ trang b ị cho nhà báo phương pháp thông tin và biết cách vận dụng thông tin có hi ệu qu ả đ ể thực hiện chức năng của báo chí.
Một hướng quan trọng trong cách ti ếp cận thông tin báo chí là mỗi chương trình, mỗi tác ph ẩm ph ải đ ược xem xét kỹ lưỡng trong hệ thống những mối quan hệ giữa báo chí và công chúng. Tác phẩm báo chí (trong lí luận về thông tin thường dùng thuật ngữ “bài báo”) là điểm trung gian (cầu nối) của hệ thống Nhà báo – Tác phẩm – Công chúng. Tác phẩm (bài báo, chương trình phát thanh hay truy ền hình) do nhà báo chuẩn bị và được in trên báo hay phát sóng. Đối v ới công chúng, tác phẩm báo chí mới chỉ thể hiện qua chất lượng của thông tin tiềm năng.
Bởi vì những thông tin đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nh ận. Có nhiều tác phẩm (bài báo) giữ vai trò là “cầu nối”, phục vụ cho việc trao đổi thông tin giữa nhà báo và công chúng, nhưng công chúng không tiếp nhận, mặc dù tác phẩm (hay chương trình) đã được đăng báo hay phát sóng. Hiện tượng đó diễn ra khi công chúng không đ ọc báo, không xem truy ền hình hay không nghe đài (có nhiều lý do dẫn đến hi ện t ượng này, ch ẳng hạn như kỹ thuật in kém, sóng truyền hình yếu v.v… nhưng quan tr ọng 17 hơn cả mà người làm báo cần chú ý là bài viết, hay chương trình phát thanh, truyền hình… không hấp dẫn được người đọc, người xem, người nghe). Trong những trường hợp như vậy, mối quan hệ nhà báo – tác phẩm – công chúng bị phá vỡ.
Điều đó dẫn đến tình trạng là không có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực. Thông tin hiện thực là thông tin được nhà báo sáng tạo và được công chúng tiếp nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc có thể họ là “người nhận th ứ hai” (nghe người đã từng nghe, xem, đọc kể lại). Việc đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng được th ể hi ện qua các tác phẩm và chương trình là rất cần thiết, đảm bảo cho thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện thực. Vì thế mà trong khoa học hiện đại có một cách định nghĩa về thông tin như sau: Thông tin không chỉ đơn giản là tác phẩm báo chí mà là những tác phẩm báo chí khi đã đ ược công chúng tiếp nhận [45].
Trong hoạt động báo chí, khi tìm hiểu về khái niệm thông tin cần đặt nó trong mối liên hệ trực tiếp với vấn đề hiệu quả, tức là ảnh hưởng trực tiếp của thông tin đối với công chúng, hướng dẫn nhận th ức và giáo d ục đạo đức cho họ để họ có hành động đúng đắn. Vì vậy, có thể đồng tình với định nghĩa: Thông tin là phần tri thức được sử dụng để định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản lý xã hội, th ực hi ện m ục đích giữ gìn những đặc điểm phẩm chất, sự hoàn thiện và sự phát triển hệ thống. Thông tin báo chí là dạng thông tin xã hội đặc thù, mang tính thời sự, phổ cập và rất quan trọng về phương diện chính trị - xã hội.