Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA HÀNH CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Thanh tra hành chính 1. Khái niệm thanh tra hành chính Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành là văn kiện mang tính pháp lý đầu tiên của ngành Thanh tra, đặt nền móng cho việc hoàn thiện cơ cấu, tổ chức và xây dựng hệ thống pháp luật của ngành Thanh tra tại Việt Nam hiện nay. Khái niệm chung về thanh tra tại Sắc lệnh 64-SL được xác định tại Điều I: "Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của các Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ.
Trước yêu cầu của bối cảnh lịch sử, Sắc lệnh đã giao nhiệm vụ cho Ban Thanh tra đặc biệt, với những quyền hạn cũng rất đặc biệt như: - Điều tra, hỏi chứng, xem xét các tài liệu giấy tờ của các Uỷ ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát; - Đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Uỷ ban nhân dân hay của Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng Chính phủ hay Toà án đặc biệt xét xử; - Tịch biên hoặc niêm phong những tang vật và dùng mọi cách điều tra để lập một hồ sơ mang một phạm nhân ra Toà án đặc biệt. download by : skknchat@gmail.com 11 - Ban thanh tra có thể truy tố cả các việc đã xẩy ra trước ngày ban bố Sắc lệnh này.[1] Những quyền này bao gồm cả hoạt động tư pháp. Điều này thể hiện tính chất đặc biệt của Ban Thanh tra này như chính tên gọi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong điều kiện, bối cảnh Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa mới giành được chính quyền và cần có một cơ quan vừa thực hiện quyền thanh tra như một cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, đồng thời, giao cho chính cơ quan thanh tra này thực hiện những quyền thuộc về lĩnh vực tư pháp. Trước khi Pháp lệnh thanh tra năm 1990 được công bố, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý quy định về tổ chức, hoạt động thanh tra như Sắc lệnh 138B/SL-QD ngày 18/2/1949; Sắc lệnh 261/SL ngày 28/3/1956; Nghị định 136-CP ngày 29/9/1961; Nghị quyết số 780/NQ-TVQH ngày 11/08/1969; Nghị định số 01/CP ngày 3/1/1977; Nghị quyết số 26/HĐBT ngày 15/2/1984… với nhiều tên gọi khác nhau từ Ban Thanh tra Chính phủ, rồi Ban Thanh tra trung ương, Ủy ban Thanh tra, Ủy ban Thanh tra của Chính phủ… Trong các văn bản này khi đề cập đến quyền hạn của cơ quan thanh tra luôn nhất quán với quan điểm thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý và trao cho thanh tra những quyền hạn tương ứng với nhiệm vụ.
Ngày 01 tháng 4 năm 1990, Pháp lệnh thanh tra được ban hành gồm 6 chương, 41 điều quy định: Hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Nhà nước; tổ chức thanh tra nhân dân và trình tự thanh tra. Ủy ban Thanh tra Nhà nước được đổi tên thành Thanh tra Nhà nước. Pháp lệnh thanh tra năm 1990 là cơ sở pháp lý để kiện toàn bộ máy của thanh tra nhà nước, hệ thống thanh tra nhà nước các bộ, ngành, thanh tra các tỉnh, thành phố trực download by : skknchat@gmail.com 12 thuộc trung ương, thanh tra các sở, thanh tra các quận, huyện, thị xã, thanh tra các xã, phường, thị trấn. Pháp lệnh đã mở ra một thời kỳ phát triển mới cho công tác thanh tra.
Sự ra đời của Pháp lệnh Thanh tra thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác thanh tra, đối với việc tăng cường pháp chế XHCN, tăng cường hiệu lực quản lý và điều hành của các cơ quan nhà nước. Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Luật Thanh tra năm 2004 là đạo luật đầu tiên quy định về hình thức thanh tra. Theo đó, hoạt động thanh tra hành chính hay thanh tra chuyên ngành đều được quy định cụ thể việc thực hiện dưới hình thức thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất. Trên nền tảng cơ sở đó, Luật Thanh tra năm 2010 đã bổ sung hình thức thanh tra thường xuyên, gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt; thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.
Qua từng giai đoạn của lịch sử, Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về thanh tra, là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thanh tra trên phạm vi cả nước. Khái niệm thanh tra nhà nước được nêu khái quát như sau: Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, download by : skknchat@gmail.com 13 quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.[12] Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, cụ thể: Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.[12] Từ khái niệm trên cho thấy hai hoạt động cốt lõi và quan trọng nhất về thanh tra theo quy định của Nhà nước về thanh tra.
Hoạt động thanh tra hành chính hướng vào đối tượng là các cơ quan hành chính nhà nước và cá nhân thuộc bộ máy cơ quan hành chính nhà nước, qua thanh tra xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ cũng như hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Chúng ta có thể khái quát lại như sau: Thanh tra hành chính là một bộ phận của hoạt động thanh tra, tham gia vào quá trình quản lý hành chính nhà nước. Mà chủ thể thực hiện là cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện xem xét, đánh giá và xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc. Từ đó, nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện download by : skknchat@gmail.com 14 đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đặc điểm của thanh tra hành chính Thanh tra hành chính nằm trong tổng thể hoạt động thanh tra nói chung và là một hoạt động của quản lý nhà nước. Trong đó, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; và được thể hiện thông qua các đặc điểm chính sau: Thứ nhất, thanh tra hành chính gắn liền với quản lý hành chính nhà nước, là một chức năng, một phần của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, hoạt động thanh tra hành chính gắn liền với chủ thể quản lý hành chính nhà nước. Trong đó, chủ thể tiến hành thanh tra hành chính là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền tiến hành, cơ quan trực tiếp đảm nhiệm là các cơ quan thanh tra được giao quyền theo quy định pháp luật. Ở trung ương là Thanh tra Chính phủ, ở cấp tỉnh là Thanh tra tỉnh, ở cấp huyện là Thanh tra huyện.
Bên cạnh đó, cơ quan thanh tra chuyên ngành cũng tiến hành hoạt động thanh tra hành chính trong nội bộ cơ quan chủ quản như Thanh tra Bộ và thanh tra Sở. Thứ hai, thanh tra hành chính mang tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực nhà nước được cụ thể trong Luật Thanh tra năm 2010, cụ thể hóa bằng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hoạt động thanh tra với các đối tượng thanh tra. Ở đây, đối tượng của thanh tra hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, theo phân cấp như Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính download by : skknchat@gmail.com 15 phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Bộ, cơ quan ngang Bộ tiến hành hoạt động thanh tra đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành hoạt động thanh tra đối với các sở, ngành, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập; Thanh tra huyện tiến hành thanh tra đối với các phòng, ban thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý trực tiếp và Ủy ban nhân dân cấp xã.
Luật Thanh tra 2010 đã quy định rõ tính quyền lực nhà nước đối với hoạt động thanh tra thông qua việc giao quyền hạn và khả năng thực thi quyền đó.