Tổng quan nghiên cứu

Huyện Võ Nhai là huyện vùng cao duy nhất của tỉnh Thái Nguyên với địa hình đồi núi hiểm trở, diện tích núi đá vôi chiếm tới 92% và kinh tế phụ thuộc lớn vào sản xuất nông nghiệp chiếm 55% cơ cấu kinh tế. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 của huyện ở mức 19,41% và cận nghèo là 15,03%, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2008 - 2018 chỉ đạt từ 5% đến 6% mỗi năm. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã giữ vai trò cầu nối then chốt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tại 15 đơn vị hành chính cấp xã của huyện. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực tại đây đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn lớn với tình trạng vừa thừa, vừa thiếu nhân sự cục bộ.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Võ Nhai dựa trên khung tiêu chuẩn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP và Nghị định số 34/2019/NĐ-CP. Nghiên cứu tập trung giải quyết các bất cập nổi cộm như tỷ lệ 18,18% cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn, 45,57% cán bộ, công chức chưa được đào tạo lý luận chính trị và việc thiếu hụt 41 biên chế so với định mức 357 người được giao. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 15 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Võ Nhai, sử dụng chuỗi dữ liệu thực chứng giai đoạn 2016 - 2018 để hoạch định hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho giai đoạn 2019 - 2022. Ý nghĩa thực tiễn của công trình nhằm nâng tỷ lệ đạt chuẩn hóa chức danh lên 100%, góp phần trực tiếp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước cơ sở và thúc đẩy chương trình xây dựng nông thôn mới tại các địa bàn vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết quản trị nguồn nhân lực khu vực công và mô hình chuẩn hóa chức danh công vụ theo vị trí việc làm. Khung lý thuyết tiếp thu có chọn lọc các luận cứ khoa học về xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các nhà nghiên cứu quản lý hành chính tại Việt Nam, đặc biệt là hệ thống quan điểm về tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở nông thôn. Bốn khái niệm cốt lõi tạo thành nền tảng phân tích gồm: cán bộ cấp xã (những người được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ), công chức cấp xã (công dân được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn trong biên chế và hưởng lương ngân sách), chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (tổng hòa các yếu tố phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực chuyên môn và khả năng hoàn thành nhiệm vụ) và chuẩn hóa vị trí việc làm cấp xã (việc thiết lập khung tiêu chuẩn định lượng về văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị và kỹ năng bổ trợ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ hồ sơ quản lý cán bộ, các báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 2016 - 2018 của Phòng Nội vụ huyện Võ Nhai kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn, khảo sát thực tế. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 316 cán bộ, công chức đang công tác tại 15 xã, thị trấn trên toàn địa bàn huyện, gồm 154 cán bộ và 162 công chức. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu toàn thể (không chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất) nhằm phản ánh bức tranh nhân sự toàn diện, chính xác và không bỏ sót bất kỳ chức danh nào trong hệ thống chính trị cơ sở.

Các phương pháp phân tích số liệu chủ yếu bao gồm: phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tỷ lệ phần trăm và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia quản lý tổ chức bộ máy. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì hệ thống dữ liệu hành chính công cấp huyện đòi hỏi tính chính xác cơ học cao, việc đối sánh tỷ lệ tương đối giữa các năm 2016, 2017, 2018 giúp bộc lộ rõ xu hướng biến động nhân sự, từ đó chỉ ra những khoảng trống về năng lực và hỗ trợ xây dựng lộ trình giải pháp khả thi cho chu kỳ kế hoạch 2019 - 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất, quy mô nhân sự sụt giảm liên tục dẫn đến tình trạng thiếu hụt biên chế kéo dài. Tổng số cán bộ, công chức cấp xã tại huyện giảm từ 332 người năm 2016 xuống 326 người năm 2017 và chỉ còn 316 người năm 2018. So với định mức giao là 357 biên chế, huyện còn thiếu 41 người, tương đương tỷ lệ thiếu hụt 12,58% (trong đó thiếu 18 cán bộ và 23 công chức). Tỷ lệ biên chế chưa được bố trí tăng dần từ 7,00% năm 2016 lên 9,34% năm 2017 và đạt đỉnh 12,58% năm 2018.

Phát hiện thứ hai, cơ cấu giới tính và độ tuổi có sự mất cân đối nghiêm trọng. Tỷ lệ nam giới chiếm áp đảo với 78,80% (249 người), trong khi nữ giới chỉ chiếm 21,20% (67 người). Đáng chú ý ở khối cán bộ bầu cử, tỷ lệ nam giới lên tới 84,42% so với 15,58% của nữ giới. Về độ tuổi, lực lượng từ 31 đến 50 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất với 58,23% (184 người), độ tuổi từ 51 đến 60 tuổi chiếm 27,85% (88 người) và cán bộ trẻ dưới 30 tuổi chỉ chiếm 13,92% (44 người).

Phát hiện thứ ba, trình độ chuyên môn và lý luận chính trị còn nhiều khoảng trống đáng kể. Về chuyên môn, trình độ đại học chiếm 40,19% (127 người), trung cấp chiếm 43,35% (137 người), cao đẳng chiếm 6,96% (22 người) và còn 9,49% (30 người) ở mức sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo (riêng khối cán bộ có 28 người chưa qua đào tạo, chiếm 18,18%). Về lý luận chính trị, có tới 45,57% (144 người) chưa qua đào tạo (khối công chức lên tới 64,81%), trình độ trung cấp đạt 53,80% (170 người) và trình độ cao cấp chỉ đạt 0,63% (2 người).

Phát hiện thứ tư, công tác chuẩn hóa kiến thức quản lý nhà nước và tin học chưa đồng bộ. Tỷ lệ cán bộ, công chức đã qua bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên đạt 73,42% (232 người), nhưng vẫn còn 26,58% (84 người) chưa được bồi dưỡng. Về tin học, tỷ lệ có chứng chỉ đạt 81,96% (259 người), trung cấp trở lên đạt 4,11% (13 người) và còn 13,93% (44 người) chưa qua đào tạo tin học cơ bản (trong đó khối cán bộ chưa đạt chuẩn tin học chiếm tới 25,32%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ việc phần lớn đội ngũ cán bộ cơ sở trưởng thành từ phong trào quần chúng tại địa phương, chịu tác động mạnh bởi tập quán, tâm lý dòng họ và sự e ngại trong việc tiếp cận công nghệ mới. Địa bàn vùng cao rộng lớn, giao thông cách trở làm hạn chế cơ hội tham gia các khóa học dài hạn tập trung. Bên cạnh đó, ngân sách dành cho đào tạo tuy đã đầu tư gần 600 triệu đồng giai đoạn 2016 - 2018 nhưng tiến độ triển khai còn dồn vào cuối năm, gây quá tải công việc cơ sở.

Khi đối sánh với kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ tại thành phố Sông Công (tập trung ngân sách lớn, áp dụng cơ chế khoán quỹ lương) và tỉnh Bắc Giang (mạnh dạn điều động 50 cán bộ cấp huyện về tăng cường giữ các vị trí chủ chốt tại xã), huyện Võ Nhai vẫn còn thận trọng trong công tác luân chuyển khi mới chỉ điều động được 5 cán bộ huyện về xã và thực hiện chuyển đổi 25 vị trí công chức tài chính, địa chính.

Để tối ưu hóa năng lực quản trị dữ liệu nhân sự, toàn bộ số liệu thực trạng nên được trình diễn trực quan thông qua biểu đồ cột chồng phân tầng thể hiện cơ cấu trình độ chuyên môn theo từng nhóm chức danh và bảng ma trận chéo kết hợp giữa độ tuổi, ngạch công chức và trình độ lý luận chính trị. Việc hiển thị dữ liệu qua biểu đồ trực quan sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng nhận diện những vị trí nhân sự xung yếu cần ưu tiên đào tạo hoặc thay thế ngay trong các kỳ tuyển dụng kế tiếp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và trẻ hóa nguồn nhân lực cơ sở. Ban Tổ chức Huyện ủy phối hợp cùng Đảng ủy 15 xã, thị trấn rà soát danh sách 195 nhân sự đã được phê duyệt quy hoạch giai đoạn 2020 - 2025; kiên quyết đưa ra khỏi quy hoạch các trường hợp trì trệ, không đáp ứng tiêu chuẩn. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ cán bộ nữ trong quy hoạch lên trên 30% và cán bộ dưới 35 tuổi lên trên 25% trước năm 2022, khắc phục dứt điểm tình trạng quy hoạch khép kín, kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ mà không đưa vào sử dụng.

Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn vị trí việc làm và nhu cầu thực tế. UBND huyện Võ Nhai giao Phòng Nội vụ phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện bố trí kinh phí tối thiểu 250 đến 300 triệu đồng mỗi năm để tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng quản lý nhà nước, cải cách hành chính và chuyển đổi số. Mục tiêu trọng tâm là giảm tỷ lệ chưa qua đào tạo lý luận chính trị từ 45,57% xuống dưới 15% trước năm 2022, đồng thời đạt 100% cán bộ, công chức có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và chứng chỉ tin học ứng dụng.

Thứ ba, chuẩn hóa công tác tuyển dụng, luân chuyển và điều động công chức. Hội đồng Tuyển dụng huyện Võ Nhai cần sớm kích hoạt kỳ thi tuyển công khai để bổ sung đủ 19 chỉ tiêu công chức chuyên môn còn thiếu theo tinh thần Nghị định 34/2019/NĐ-CP, ưu tiên người có trình độ đại học chuyên ngành luật, quản lý đất đai và tài chính. Tiếp tục duy trì kế hoạch luân chuyển từ 5 đến 10 cán bộ lãnh đạo từ các phòng, ban cấp huyện về xã khó khăn, đồng thời thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác cho trên 30 lượt công chức địa chính, tài chính - kế toán nhằm hạn chế tiêu cực và sức ỳ chuyên môn.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế đánh giá, thi đua khen thưởng và đầu tư hiện đại hóa công sở. UBND 15 xã, thị trấn áp dụng khung tiêu chí đánh giá cán bộ gắn liền với mức độ hoàn thành nhiệm vụ thực tế và sự hài lòng của người dân, khống chế tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thực chất ở mức dưới 20%. UBND huyện cần ưu tiên phân bổ ngân sách đầu tư đồng bộ hệ thống máy tính, đường truyền mạng và trang thiết bị làm việc cho bộ phận một cửa tại 15/15 xã, thị trấn nhằm đẩy mạnh giải quyết thủ tục hành chính công trực tuyến.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất, lãnh đạo và chuyên viên các cơ quan tham mưu về tổ chức bộ máy, bao gồm Phòng Nội vụ, Ban Tổ chức Huyện ủy, Sở Nội vụ và Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng sâu sắc và bài học thực tiễn giá trị về công tác quản lý, tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ cơ sở tại các địa bàn vùng cao đặc thù.

Nhóm thứ hai, đội ngũ cán bộ chủ chốt và công chức chuyên môn tại 15 xã, thị trấn của huyện Võ Nhai cũng như các huyện miền núi có điều kiện tự nhiên tương đồng. Đây là tài liệu đối chiếu hữu ích giúp cán bộ cơ sở nhận diện rõ tiêu chuẩn chức danh, từ đó chủ động xây dựng lộ trình tự học tập, bồi dưỡng hoàn thiện kỹ năng chuyên môn, lý luận chính trị và công nghệ thông tin.

Nhóm thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý công, Quản trị nhân lực, Khoa học quản lý và Xây dựng Đảng. Luận văn cung cấp phương pháp tiếp cận mẫu nghiên cứu toàn diện (toàn thể 316 cán bộ, công chức), hệ thống chỉ số đo lường chất lượng nhân sự công và cách tiếp cận liên ngành giữa lý luận hành chính và thực tiễn địa phương.

Nhóm thứ tư, giảng viên, báo cáo viên tại các Trường Chính trị cấp tỉnh và Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị cấp huyện. Công trình là nguồn học liệu thực tế chất lượng cao, cung cấp nhiều case study sinh động về công tác quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo và luân chuyển cán bộ cơ sở phục vụ biên soạn bài giảng và chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất về chất lượng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Võ Nhai là gì? Hạn chế lớn nhất nằm ở trình độ lý luận chính trị và sự thiếu hụt biên chế. Có tới 45,57% cán bộ, công chức (144 người) chưa qua đào tạo lý luận chính trị, trong đó khối công chức lên tới 64,81%. Đồng thời huyện vẫn thiếu 41 biên chế so với định mức 357 người được giao.

Nguyên nhân nào dẫn đến việc tỷ lệ cán bộ, công chức nữ tại cơ sở chỉ chiếm 21,20%? Tỷ lệ nữ giới thấp (67 người trên tổng số 316 người) do định kiến giới, gánh nặng gia đình và đặc thù nguồn cán bộ đi lên từ cơ sở vùng cao với địa bàn đi lại khó khăn. Nữ giới hiện chỉ tập trung chủ yếu ở các chức danh Hội Liên hiệp Phụ nữ, Văn phòng - Thống kê và Tài chính - Kế toán.

Tại sao số lượng cán bộ, công chức của huyện lại giảm liên tục qua các năm 2016, 2017 và 2018? Tổng số nhân sự giảm từ 332 người xuống 316 người do cán bộ đến tuổi nghỉ hưu, tinh giản biên chế và việc tạm dừng tuyển dụng mới 19 chỉ tiêu năm 2018 nhằm rà soát sắp xếp lại bộ máy hành chính theo tinh thần của Nghị định số 34/2019/NĐ-CP.

Công tác luân chuyển cán bộ huyện về xã đã mang lại những tác động tích cực nào? Việc luân chuyển 5 cán bộ huyện về giữ chức Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy xã và chuyển đổi vị trí cho 25 công chức chuyên môn đã giúp giải quyết khó khăn về nhân sự chủ chốt, tăng tính khách quan, giảm tư tưởng cục bộ dòng họ và tạo môi trường thử thách cho cán bộ trẻ có triển vọng.

Luận văn đưa ra chỉ tiêu định lượng cụ thể nào cho công tác chuẩn hóa cán bộ đến năm 2022? Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ chưa qua đào tạo lý luận chính trị xuống dưới 15%, đạt 100% cán bộ, công chức có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và chứng chỉ tin học văn phòng, đồng thời hoàn thành tuyển dụng đủ biên chế theo khung định mức mới cho toàn bộ 15 xã, thị trấn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và xác lập khung tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đặc thù cho các huyện vùng cao, dân tộc thiểu số.
  • Phân tích chi tiết thực trạng của 316 cán bộ, công chức tại 15 xã, thị trấn huyện Võ Nhai giai đoạn 2016 - 2018, chỉ rõ các hạn chế về cơ cấu giới tính (nam 78,80%), thiếu hụt 41 biên chế và 45,57% chưa qua đào tạo lý luận chính trị.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ thực tiễn luân chuyển cán bộ tại tỉnh Bắc Giang và cơ chế tự chủ, đãi ngộ tại thành phố Sông Công để áp dụng phù hợp cho địa bàn nghiên cứu.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, đồng bộ từ quy hoạch, đào tạo, tuyển dụng, luân chuyển đến đổi mới cơ chế đánh giá và đầu tư cơ sở vật chất công nghệ thông tin cho giai đoạn 2019 - 2022.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn và cơ sở dữ liệu quan trọng giúp Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Võ Nhai chuẩn hóa 100% đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở theo Nghị định 34/2019/NĐ-CP.

Trong giai đoạn 2019 - 2022 và tầm nhìn đến năm 2025, việc khẩn trương tổ chức thi tuyển 19 chỉ tiêu công chức, triển khai các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và ứng dụng công nghệ thông tin là yêu cầu cấp thiết. Các cấp lãnh đạo huyện, cơ quan chuyên môn và đội ngũ cán bộ cơ sở cần chủ động áp dụng ngay các đề xuất này để xây dựng nền hành chính công chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.