CHƯƠNG I: BỐI CẢNH XÃ HỘI – VĂN HÓA, TIỀN ĐỀ CỦA CUỘC ĐỜI - SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG TRẦN QUANG NGHIỆP 1.1 Bối cảnh xã hội – văn hóa Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX 1. Những biến động của xã hội Nam bộ Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nam bộ đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Cùng chung số phận lịch sử của cả nước, tại vùng đất phía Nam này, con người cũng phải đón nhận biết bao biến động, đổi thay dữ dội trong cuộc sống. Đó là sự đổi thay diễn ra từng phút, từng giờ.
Chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer và Albert Sarraut đã làm thay đổi sâu sắc xã hội Việt Nam nói chung và Nam bộ nói riêng. Kinh tế hàng hóa phát triển đã đẩy mạnh thông thương, thành thị ngày càng phát triển. Sài Gòn và Chợ Lớn là hai trung tâm diễn ra quá trình đô thị hoá nhanh chóng nhất. Dân số đô thị ngày càng đông, đời sống thành thị ngày càng phức tạp, thành phần dân cư ngày càng đa dạng với sự xuất hiện của các giai cấp và tầng lớp khác hẳn trước kia: công nhân, nhà buôn, nhà báo, thầy giáo, ký lục, thầu khoán, học trò… Trong số đó không ít người bằng mưu mẹo, mánh khóe mà trở nên giàu có, số khác lại trở thành anh bồi, anh xe, vú em, thậm chí thành gái điếm, ăn xin, cướp giật… Vì thế tầng lớp tiểu tư sản đặc biệt dân nghèo chiếm ưu thế và ngày càng đông đảo, làm đời sống xã hội Nam bộ vô cùng rối ren, phức tạp.
“Năm 1863, dân số cả Sài Gòn – Gia Định chỉ mới gần hai vạn thì đến năm 1929 đã có trên ba mươi vạn người; trong đó gần một nửa là những người lao động chân tay” [4, tr. Đời sống thành thị với đủ hạng người, đủ mọi tầng lớp đua nhau Tây hóa. Những nhà hát lộng lẫy, những quán ăn sang trọng, những quán trà thanh lịch… đua nhau xuất hiện. Chính sự náo nhiệt, lôi cuốn của nhịp sống thành thị đã khiến không ít người lầm đường lạc lối.
Trong cuộc mưu sinh vất vả, người ta tính toán, chạy vại, mánh khóe này nọ để kiếm tiền. Đời sống thành thị luôn luôn động và biến đổi. Cũng vì thế mà xuất hiện nhiều con người khác trước, nhiều quan hệ khác trước và nhiều chuyện khác trước. Tóm lại, nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là khoảng thời gian không dài so với lịch sử phát triển của Nam bộ.
Nhưng trong khoảng thời gian đó xã hội Nam bộ chuyển mình mạnh mẽ sang hướng tư sản đồng thời kéo theo các mặt khác phát triển: thay đổi thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế; thay đổi kết cấu xã hội, làm mất thế lực các lực lượng bảo thủ, tạo điều kiện cho cái mới – sau khi đã phát triển, biến hoá – có điều kiện từ thành thị tràn về nông thôn, chi phối sự phát triển theo kiểu xã hội hiện đại. Xã hội Nam bộ gồng mình thay da đổi thịt từng phút từng giây, một cuộc đổi thay dâu bể. “Trong cuộc đổi thay như vậy – một cuộc đổi thay mà bất cứ cuộc bể dâu nào trước đây cũng không thể so sánh – xuất hiện nhiều con người khác trước, nhiều chuyện khác trước. Cuộc sống tràn ra ngoài luân thường và nhân tình thế thái, trở thành một cuộc sống xã hội cụ thể, đa dạng và sôi động.
Sự êm ấm của hạnh phúc gia đình không giữ chân được con người; tình làng xóm không giữ chân được chàng trai sau lũy tre xanh. Bước ra khỏi khuôn khổ chật hẹp, yên lặng, họ hàng, làng mạc người ta bị dòng xoáy của xã hội hiện đại cuốn đi, lắm lúc quá đà, đi chệch hướng lúc nào cũng không hay biết” [14, tr. Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà có viết: “Văn học hôm nay sẽ còn lại với mai sau không phải chỉ như bức tranh hiện thực về số phận con người mà còn là kí ức về bộ mặt tinh thần của xã hội chúng ta. Truyện ngắn Trần Quang Nghiệp phần nào đã minh chứng cho điều đó.
Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, truyện ngắn Trần Quang Nghiệp xuất hiện rất nhiều những nhân vật thành thị cùng những vấn đề nóng hổi về nhân tình thế thái trong xã hội mới đầy biến động. Những thay đổi về văn hóa Nam bộ 1. Chữ quốc ngữ Đầu thế kỉ XX, cùng với những biến đổi về kinh tế, chính trị và xã hội, đời sống văn hóa cũng có những nét mới đáng kể. Yếu tố đầu tiên quan trọng tác động tích cực đến sự phát triển của văn học Nam bộ giai đoạn này là sự phổ biến chữ quốc ngữ của chế độ thực dân nửa phong kiến.
Về phía nhân dân ta, lúc đầu chữ quốc ngữ bị bài bác bởi nó bị xem là thứ chữ của quân cướp nước nên không dễ gì thay thế chữ Hán và Nôm được. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thành thị và sự xuất hiện ngày càng nhiều những tầng lớp xã hội mới, chữ quốc ngữ dần dần được công chúng làm quen và thực sự thừa nhận vào thập niên đầu của thế kỉ XX. Đặc biệt ở Nam kỳ, việc truyền bá chữ quốc ngữ qua phong trào Minh Tân đã khiến người ta không còn bàn nên hay không nên học chữ Quốc ngữ nữa mà thứ chữ này được khẳng định là chữ ta, hồn trong nước và được chính các bậc thâm niên trong nền Hán học cổ động tích cực nhất như Trần Quý Cáp, Nguyễn Phan Lãng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trương Vĩnh Kí…Chính việc truyền bá chữ Quốc ngữ làm cho dân ta có điều kiện tiếp thu những văn minh, học thuật mới. Qua chữ quốc ngữ họ làm giàu ngôn ngữ mẹ đẻ bằng nhiều nguồn kiến thức, ra sức gìn giữ và trau dồi nó bởi họ biết rằng những ai “chối chữ quốc ngữ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình” [57, tr.
Có thể nói chữ Quốc ngữ ảnh hưởng tích cực đến sự ra đời và phát triển của văn xuôi nước ta. Với sự phát triển nhanh chóng, chữ quốc ngữ đã khiến câu văn tiếng Việt có nhiều đổi mới, đồng thời việc sáng tác văn chương chữ quốc ngữ cũng giúp cho chữ quốc ngữ ngày càng diễn đạt tinh tế hơn cuộc sống, tâm tư tình cảm của con người. Từ chữ quốc ngữ mà báo chí cùng với thơ, văn xuôi hiện đại đã làm chủ văn đàn, vươn lên trình độ đỉnh cao, đạt được những tha2NH tựu to lớn cho suốt cả thế kỉ. Chữ quốc ngữ trở thành công cụ hữu ích thực hiện nhiều nhiệm vụ lịch sử trong công cuộc canh tân đất nước, hiện đại hoá văn học dân tộc, mở ro65nggiao lưu, hội nhập với văn hóa và văn học Tây Âu.
Ghi chú: Chữ quốc ngữ được Trần Quang Nghiệp vận dụng rất điêu luyện trong những sáng tác của mình. Tuy nhiên, vì ở giai đoạn đầu do chưa có tính thống nhất trong việc sử dụng chữ quốc ngữ nên đôi lúc ông có những từ dùng không đúng chính tả. Qua khảo sát 4 tờ báo: Công Luận, Thần Chung, Đông Pháp thời báo, Lục Tỉnh Tân Văn chúng tôi thấy sai lỗi chính tả là tình hình chung của thời kì này chứ không riêng gì Trần Quang Nghiệp. Có lẽ trong quá trình in ấn, sắp chữ, có thể một số từ đã bị sai chính tả hoặc thiếu dấu.
Để hiểu đúng ý nghĩa của từ và câu trong văn bản, trong lúc trích dẫn dẫn chứng, chúng tôi đã chỉnh sửa lỗi chính tả và thêm dấu một số từ ngữ. Báo chí và nghề in, xuất bản Một hiện tượng văn hóa khác cũng góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học đó là sự ra đời của báo chí. Có thể khẳng định, báo chí đóng vai trò quyết định đối sự hình thành và phát triển của văn học Nam bộ. Những năm đầu thế kỉ XX, báo chí ra đời được xem là hiện tượng cực kì mới mẻ trong đời sống người dân Nam kỳ lục tỉnh, là một trong những dấu hiệu của xã hội hiện đại, bởi đây là nơi công khai trao đổi, bàn luận những thông tin có liên quan đến chính trị, văn hóa, xã hội trong và ngoài nước.
Kể từ khi tờ báo bằng chữ quốc ngữ La tinh đầu tiên xuất hiện ở miền Nam (Gia Định báo – 1865) thì tiếp theo đó hàng chục tờ báo ra đời như: Nhật trình Nam kỳ (1883), Bảo hộ Nam Dân (1888), Thông loại khóa trình (1888), Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo ( 1892), Phan Yên Báo (1898), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Đại Việt Tân Báo (1905), Nhật Báo Tỉnh (1905), Lục Tỉnh Tân Văn (1907), Đăng Cổ Tùng Báo (1907), Nam kỳ Địa Phận (1908), Đông Dương tạp chí (1913), Trung Bắc Tân Văn (1915), Tân Đợi Thời Báo (1916), Công Luận Báo (1916), Nam Trung Nhật Báo (1917), Nam Phong Tạp Chí (1917)…; và đến năm 1930, riêng ở Nam Kỳ đã có hơn 50 tờ được phát hành. Nguyên nhân khởi phát của báo chí là do thực dân Pháp cần một thứ vũ khí tinh thần để cổ động, tuyên truyền cho “tân trào”, cho “công cuộc khai hóa” nhưng một điều chúng không ngờ tới là dân ta lại dùng chính vũ khí của thực dân để chống lại bọn thực dân. Người dân An Nam đã dùng báo chí để truyền bá tư tưởng yêu nước, đăng tải nhiều kiến thức mới nhằm mở mang văn hóa dân tộc. Nhờ có báo chí mà văn học quốc ngữ ở nước ta mới được phổ biến và phát triển rộng khắp.
Thời đó, báo chí chỉ là nơi để đăng những thông tư, nghị định của nhà cầm quyền để phổ biến cho dân chúng. Thỉnh thoảng nếu có thì chỉ là những tin cá, gạo, lúa, án mạng từ tòa…chứ chưa có tin tức về chính trị, xã hội. Để thu hút độc giả các tờ báo đã cho đăng những tác phẩm văn học dịch từ phương Tây, Trung Quốc và sáng tác của những nhà văn trong nước. Hầu hết các tờ báo thường xuyên dành một khoảng lớn cho các bài liên quan đến văn học thuộc các loại: dịch, tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ…dưới dạng nhiều kỳ.
Báo chí lúc này làm cho đời sống văn hóa và văn học cực kì sôi động, phong phú. Nó là nơi các tác giả văn nghệ buổi đầu làm quen với cách viết hiện đại, tư duy hiện đại. Họ có điều kiện rèn luyện câu văn, trau dồi ngòi bút của mình qua những bài viết, bài dịch thuật. Báo chí cũng là nơi thể nghiệm những thể loại văn học mới: thơ, văn, tiểu thuyết, kịch, nghiên cứu văn học.