phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 03 chƣơng, gồm: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả. Chƣơng 2: Thực trạng xử vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. 8 Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ XỬ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 1.
Quan niệm về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán hàng giả 1. Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính 1. Vi phạm hành chính Theo lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật đƣợc cấu thành bởi các mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể của nó, “ vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà vi phạm pháp luật đƣợc phân thành nhiều loại khác nhau.
Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật đƣợc chia thành các loại sau: Vi phạm hình sự (tội phạm): là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và đƣợc quy định trong Bộ luật Hình sự. Vi phạm hành chính: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi nhƣng mức độ nguy hiếm cho xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật hành chính bảo vệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nƣớc. Vi phạm dân sự: là những hành vi trái luật dân sự, hay ngƣợc lại với truyền thống, phong tục tập quán, đạo đức xã hội đƣợc nhà nƣớc thừa nhận, 10 có lỗi, xâm hại tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân và quan hệ phi tài sản có liên quan tới tài sản đƣợc pháp luật dân sự bảo vệ. Vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗ ới các quy tắc kỷ luật lao động, học tập, công vụ nhà nƣớc trong các cơ quan nhà nƣớc, doanh nghiệp, trƣờng học đƣợc pháp luật lao động, hành chính và các văn bản nội quy của từng cơ quan, doanh nghiệp quy định.
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã đƣa ra định nghĩa pháp lý về “vi phạm hành chính”, khoản 1 điều 2 của Luật quy định: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Định nghĩa trên đƣa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính, đó là: tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nƣớc, có lỗi, tính trái pháp luật hành chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Vi phạm hành chính là một dạng vi phạm pháp luật, do đó cũng bao gồm các yếu tố cấu thành pháp lý là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Dƣới đây, các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính sẽ đƣợc xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau.
- Mặt khách quan của vi phạm hành chính Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, thông thƣờng các biểu hiện ra bên ngoài của hành vi vi phạm là hành vi, thời gian, địa điểm, công cụ, phƣơng tiện hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính. Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con ngƣời hoặc tổ chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây 11 tác hại đến sự phát triển bình thƣờng của trật tự quản lý. Những biểu hiện này đƣợc kiểm soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành chính. Hành vi là biểu hiện rõ nhất trong mặt khách quan của vi phạm hành chính, chúng có ý nghĩa quyết định đến nội dung biểu hiện khác trong mặt khách quan (hậu quả, công cụ phƣơng tiện, thời gian, địa điểm); đồng thời hành vi cũng là thể thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan.
Hành vi khách quan của vi phạm hành chính có thể là hành vi hành động hoặc không hành động. Song dù biểu hiện bằng hình thức nào đi chăng nữa thì cũng chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi hành vi đó trái với pháp luật. Hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính, nhƣng đây không phải là thuộc tính riêng của vi phạm hành chính. Rất nhiều hành vi tội phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành chính.
Để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm trong trƣờng hợp cả hai loại hành vi có cùng chung khách thể, ngƣời ta lấy tiêu chí là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Hành vi vi phạm hành chính ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm hình sự. Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính: Chính là tính xâm hại khách quan của vi phạm hành chính, đƣợc thể hiện ở vi phạm hành chính đã xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ đã đƣợc pháp luật quy định thành quy tắc quản lý nhà nƣớc. Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp hậu quả của vi phạm hành chính đƣợc biểu hiện ở các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, về tự do thân thể của cá nhân hoặc làm thiệt hại về tài sản của nhà nƣớc, tập th và công dân.
Hậu quả của vi phạm hành chính là kết quả của hành vi vi phạm hành chính do con ngƣời hoặc tổ chức thực hiện. Do đó giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả vi phạm hành chính có mối quan hệ hữu cơ, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính có tiền đề xuất hiện của nó là hành vi khách 12 quan của vi phạm hành chính; sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính dựa trên các căn cứ sau: Một là, hành vi vi phạm hành chính xảy ra trƣớc hậu quả xâm hại các mối quan hệ về mặt thời gian; Hai là, hành vi vi phạm phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội; Ba là, hậu quả vi phạm đã xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi vi phạm. Ngoài những biểu hiện trên, về mặt khách quan của vi phạm còn có một số dấu hiệu khách quan khác nhƣ: thời gian, địa điểm, công cụ và phƣơng tiện vi phạm. - Mặt chủ quan của vi phạm hành chính Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những quan hệ tâm lý bên trong của chủ.
ố cơ bản nhất của mặt chủ quan là tính có lỗi. Lỗi chính là trạng thái tâm lý của ngƣời vi phạm, biểu hiện thái độ của ngƣời đó đối với hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi đó. Yêu cầu về lỗi trong Luật Hành chính không cao nhƣ trong Luật Hình sự, trong nhiều trƣờng hợp chỉ cần có lỗi nghĩa là ngƣời vi phạm biết hoặc có thể biết tính chất sai phạm của m nh là đủ để xác định vi phạm hành chính xảy ra. Đối với Luật Hình sự đòi hỏi phải chính xác hơn, không chỉ xác định lỗi mà còn phải xác định cho đƣợc hình thức và mức độ lỗi; mặt khác lỗi trong Luật Hình sự chỉ đặt ra với cá nhân vi phạm, trong hành chính lỗi đặt ra cho cả cá nhân và tổ chức vi phạm.
Lỗi trong vi phạm hành chính thế hiện dƣới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là chủ thể nhận thức đƣợc hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhƣng vẫn thực hiện. Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật do vô tình thiếu thận trọng mà không nhận thức đƣợc nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mặc dù họ có đầy đủ khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ pháp lý quy định. 13 - Chủ thể của vi phạm hành chính Trong Luật Hành chính chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tố chức; cá nhân hoặc tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính.
Đối với cá nhân: Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm công dân Việt Nam và ngƣời nƣớc ngoài (trừ những ngƣời đƣợc hƣởng quyền ƣu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh thố Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải. Những ngƣời này phải có năng lực trách nhiệm hành chính. Năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con ngƣời với hành vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật, không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức của hành vi. Điều 5 Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 xác định đối tƣợng bị xử phạt hành chính là cá nhân bao gồm: Ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; ngƣời từ đủ 16 tuối trở lên bị xử phạt hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính (điểm a khoản 1).
Ngƣời thuộc lực lƣợng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử phạt nhƣ đối với công dân khác; trƣờng hợp cần áp dụng hình thức phạt tƣớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì ngƣời xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử phạt.