mở đầu với sự nỗi lên của dòng phim tài liệu với các bộ phim của đạo diễn Michael Moore như Bowling for Columbine và Fahrenheit 9/11. Sau thành công của những bộ ba phim như Bồ già, Indiana Jones ở các thập niên trước, trào lưu làm các bộ phim có nhiều phần trở nên thịnh hành ở Hollywood như Ma trận, Cướp biên Caribe. Trong số đó, một bộ ba phim đã đạt được thắng lợi vang dội về cả doanh thu và nghệ thuật là loạt phim Chúa tế của những chiếc nhẫn (The Lord of The Rings) của đạo diễn Peter Jackson. Với sự phát triển vượt bậc của Internet và công nghệ thông tin, điện ảnh cũng phải đối mặt với tình trạng vi phạm bản quyền ngày càng nghiêm trọng.
Khái quát về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh 1. Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Về phương diện khách quan, quyên tác giả nói chung là tổng hợp các quy định pháp luậtvề quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định các nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm. Về phương diện chủ quan, quyền tác giả là quyền dân sự cụ thé (quyền tài sản và quyền nhân thân) của chủ thé với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyên của mình bị xâm phạm.org/wiki/Qu%C3%A1_tr%C3%ACnh_I%C3%A0m_phim 21 Như vậy, quyền tác giả có thé được hiểu là tong hợp các quyền mà pháp luậtmỗi quốc gia ghi nhận cho chủ thé có quyền mà thông qua các quyền đó, chủ thé có quyền được hưởng những lợi ích vật chất hoặc tinh thần và được pháp luậtbảo đảm các quyền đó. Quyên tác giả đối với tác phâm điện ảnh là quyền mà chủ thé được pháp luậtcông nhận được áp dụng liên quan đến đối tượng bảo hộ là tác phẩm điện ảnh.
Quyền tác giả còn được hiểu là quan hệ pháp luậtdân sự. Đó là quan hệ xã hội giữa tác giả, giữa chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thé khác trong xã hội thông qua tác pham, dưới sự tác động của quy phạm pháp luật, quan hệ giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thê khác được xác định. Quan hệ pháp luậtvề quyền tác giả là quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối với các chủ thê của quyền được xác định gồm ba yếu tố, đó là: - Chủ thé của quyên tác giả là tác giả và chủ sở hữu quyên tác giả có quyền đối với tác phâm điện ảnh. Trên thế giới tồn tại ba hệ thống luật liên quan đến tư cách tác giả.
Đó là: e Hệ thống trao tư cách tác giả cho một người duy nhất Chủ yếu đó là trường hợp của luật Mỹ, quy định tư cách tác giả cho nhà sản xuất. Giải pháp này có thuận lợi vì dé biết được ai là nhà sản xuất năm giữ những quyền tác giả. Nó được xây dựng trên tính logic của sự đầu tư, hoàn toàn khác so với hệ thống pháp luật của Pháp — trao tư cách tác giả bắt buộc cho những cá nhân sáng tác. e Hệ thống về quy định số tác giả hạn chế Hệ thống này tránh việc chỉ trao tư cách tác giả cho một người, nhưng đã loại mọi khả năng không an toàn bằng việc chấp nhận một “danh sách đóng” gồm một vài người được chỉ định chắc chắn là tác giả.
Bởi vậy, không một người nào khác nữa có thé đòi hỏi tư cách tác giả, Nếu hệ thống này có ưu điểm là tính đơn giản và dé lường trước thì nhược điểm của nó là cứng nhắc và có thé dẫn đến sự bat công trên thực tế (có thể xảy ra trường hợp một vài người chứng minh được phần đóng góp của mình cho tác phẩm có giá trị là sáng tạo nguyên gốc nhưng không được hưởng tư cách tác giả, trong khi những người khác chỉ nhận hờ danh hiệu này). Hiện nay luật quyền tác giả Việt Nam cũng quy định tư cách cho một số lượng hạn chế tác gia từ Điều 37 đến 42 luật SHTT Việt Nam. e Hệ thông mở vê tac giả dựa trên suy đoán 22 Quy định mang tính chất suy đoán về hệ thống tác giả của các nhà lập pháp của Pháp là dựa trên hiện tượng thống kê và những khả năng trên thực tế, bởi lẽ chính những người loại người được suy đoán là tác giả này chủ yếu thực hiện hoạt động sáng tác. Mặt khác, sự suy đoán còn chỉ ra rằng một vài người khác tham gia thực hiện tác phâm có thé có tư cách tác giả với điều kiện là đưa được bang chứng về sự sáng tao nguyên gốc trong tổng thé một tác phẩm.
- Khách thé là tác pham điện ảnh không phân biệt độ dai, chất liệu, kỹ thuật san xuất, mục đích sản xuất. do tác giả sáng tạo ra bằng lao động trí tuệ - Nội dung quyên tác giả là tông hợp các quyền nhân thân và quyên tai sản của các chủ thé trong quan hệ pháp luật về quyền tác giả liên quan đến tác pham điện anh. Đặc điểm bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Quyên tác giả đối với tác phẩm điện ảnh: quyền con người trong lĩnh vực văn hóa. Quyền tác giả được biết đến như một quyền về văn hóa của con người ghi nhận tại Điều 27 Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người ngày 10/12/1948, theo đó, “moi người đều có quyên tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, sáng tác nghệ thuật và tham gia hoạt động khoa học.
Mỗi người đều có quyên được bảo vệ lợi ích tỉnh thân và lợi ích vật chất có được từ hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật mà mình là tác gid.” Bên cạnh đó, Điều 15 Hiệp ước quốc tế về quyền xã hội, kinh tế và văn hóa ngày 19/12/1966 cũng nhắn mạnh rằng “các quốc gia ký kết phải công nhận cho mỗi người quyên được bảo vệ các lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất có được từ hoạt động khoa học, văn học và nghệ thuật mà họ là tác gia.” Từ những quy định trên, có thé thấy được răng quyền tác giả chính là một bộ phận nằm trong nhóm quyền con người được gọi dưới tên chung là “Quyền xã hội — kinh tế và văn hóa”. Những quyền này bắt đầu được nhắc đến vào đầu thế kỷ XX, khác với Quyền con người cô điển và buộc Nhà nước phải có những biện pháp tích cực và thích hợp dé bao vệ và phát triển những quyền này. Như vậy, nói tóm lại, quyên tác giả là một quyền cơ bản, nằm trong nhóm quyền về văn hóa của con người. Trách nhiệm công nhận quyền cơ bản này không chỉ liên quan đến quốc gia mà còn liên quan đến các tổ chức quốc tế có thẩm quyên trong việc ban hành các quy định liên quan đến quyền tác giả.
23 - Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh: Quyền tư. Quyền tác giả thuộc về lĩnh vực luật tư, điều chỉnh mối quan hệ chủ yếu giữa các cá nhân và tổ chức với nhau, không điều chỉnh chủ đạo mối quan hệ công quyên. Do vậy, không ngạc nhiên khi tại Việt Nam, quyền tác giả được dé cập đến như một quyền tư trong Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, cần phải nói thêm rang, theo luật của Pháp, việc xem toàn bộ quyền tác giả là luật tư có thé chưa chính xác.
Thực tế, có những trường hop tác giả là công chức nhà nước, chủ sở hữu quyền tác giả là cơ quan công quyên. Chính vì vậy, đôi khi có những tranh chấp về quyền tác gia lại liên quan đến tố tụng hành chính và trong trường hợp này, Toà xung đột có thâm quyền thụ lý để giải quyết những tranh chấp này. - Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh: quyên tài sản. Tài sản trí tuệ được xem là một loại tài sản, cụ thé hơn đó là quyền tài sản.
Pháp luật Việt Nam tại Điều 115 Bộ luật dân sự 2015 đã đưa ra định nghĩa rằng: “Quyển tài sản là quyển trị giá được bằng tiên, bao gom quyên tài sản đối với đối tượng quyên sở hữu trí tuệ, quyên sử dụng đất và các quyên tài sản khác ”. Bên cạnh đó, có thé tim thấy quy định về bảo vệ quyền tài sản trong Điều 1 Nghị định thư thứ nhất về Công ước châu Âu bảo vệ quyền con người. Theo đó, “mdi người đều có quyên được tôn trọng tài sản của ho.” Bộ luật dân sự Việt Nam cũng đã khang định lại điều này khi quy định rằng: “J, Quyên sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo hộ. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyên sở hữu đối với tài sản của minh.” (Điều 169) Tuy nhiên, cũng phải nhắc thêm rằng quyền tác giả là một loại quyền tài sản khá đặc biệt.
Điểm đặc biệt nằm ở chỗ bên cạnh quyền tài sản, quyền tác giả còn có yếu tố quyền nhân thân. Do vậy, có thé dé dang tìm thấy rất nhiều quy định riêng dành cho quyền tác giả. Và tất cả những vấn đề này đã tạo nên một nét rất riêng biệt cho quyền tác giả. - Quyền tác giả đối với tác phâm điện ảnh: một độc quyền dành cho tác giả.
Thuật ngữ “độc quyền” được sử dụng trong công ước Berne và luật của Pháp năm 1793. Thuật ngữ này cũng được sử dụng trong Hiến pháp của Hoa Kỳ tại Điều 1, phần 8: “Quốc hội có quyên. khuyến khích phát triển khoa hoc và nghệ thuật ứng dung, băng cách đảm bao cho tác giả và các nhà sang chê các độc quyên có thời hạn cho 24 các tác phẩm và sáng chế của họ”. Thuật ngữ “độc quyền” này cũng được luật Việt Nam sử dụng trong Luật SHTT.
Cụ thé tại Điều 20, khoản 2, Luật SHTT đã viết: “Các quyên quy định tại khoản 1 điều này do các tác giả, chủ sở hữu quyén tác giả độc quyên thực hiện. ” Như vậy, việc công nhận quyền tác giả là một độc quyền có thể được xem như một vũ khí hữu hiệu dé bảo vệ quyền lợi của tác giả. Theo đó, tác phẩm chỉ được sử dụng khi không gây ảnh hưởng xấu hay thiệt hại đến quyên lợi của tác giả.