Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN 1. Thẩm phán trong hệ thống các chức danh tư pháp 1.1 Khái niệm Thẩm phán Khái niệm Thẩm phán, quy định tại Điều 1, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án” [18, tr. Như vậy, Thẩm phán là những công chức nhà nước được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính, lao động và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án. Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2018 quy định: Thẩm phán là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; Có trình độ cử nhân luật trở lên; Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử; Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật; Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Thẩm phán là một chức danh tư pháp, làm việc tại Tòa án, có đủ điều kiện tiêu chuẩn theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 được Chủ Tịch nước bổ nhiệm làm nhiệm vụ xét xử [21, Điều 65]. Ngạch Thẩm phán có 04 ngạch: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp. Nhiệm kỳ Thẩm phán Thẩm phán là những người có địa vị pháp lý cao, biểu hiện của nền công lý quốc gia, thực hiện quyền xét xử của Nhà nước theo pháp luật. Pháp luật của 9 mỗi quốc gia đều có những quy định chặt chẽ về Thẩm phán, trong đó quy định nhiệm kỳ Thẩm phán, ở các nước trên thế giới chủ yếu phân thành hai loại: chế độ suốt đời (Bổ nhiệm cho đến tuổi nghỉ hưu) và chế độ nhiệm kỳ; cũng có nước áp dụng cả hai chế độ.
Hiện nay, ở Việt Nam Thẩm phán được bổ nhiệm theo chế độ nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ của Thẩm phán được quy định trong một khoảng thời gian nhất định. “Nhiệm kỳ đầu của Thẩm phán là 5 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm” [21, Điều 74] Trong những năm qua, với việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội liên quan tới công tác tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” (đây gọi tắt là Nghị quyết 08-NQ/TW) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49-NQ/TW), thì đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án nhân dân đã từng bước được kiện toàn cả về số lượng và nâng cao về chất lượng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán và các cán bộ có chức danh tư pháp; cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện làm việc của các Tòa án cũng đã được quan tâm đầu tư có hiệu quả, giúp cho Tòa án các cấp có những điều kiện thuận lợi hơn để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của mình. Trong bối cảnh tình hình tội phạm và các tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và khiếu kiện hành chính diễn biến phức tạp, gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất; việc mở rộng hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng cũng làm phát sinh càng nhiều các tranh chấp có yếu tố nước ngoài liên quan tới lĩnh vực pháp luật quốc tế và với xu thế mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các vi phạm, cũng như giải quyết các tranh chấp trong xã hội, thì yêu cầu tăng cường về số lượng, chất lượng đội ngũ Thẩm phán đối với các Tòa án là một nhiệm vụ cấp thiết.2 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tư pháp Thứ nhất, về công tác xét xử 10 Hoạt động của TAND tập trung chủ yếu trong công tác xét xử.
Tòa án nhân danh nước CHXHCNVN được trao thẩm quyền xét xử các loại án bao gồm: Hình sự, Dân sự, Kinh tế, Hành chính, Lao động và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.Thẩm phán được Nhà nước trao quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án theo luật định đó là thực hiện chức năng xét xử những vụ án: hình sự, dân sự, hành chính (Dân sự bao gồm: tranh chấp về dân sự; những tranh chấp về hôn nhân gia đình; những tranh chấp về kinh doanh - thương mại; những tranh chấp về lao động).Vai trò của Thẩm phán trong công tác xét xử như sau: Một là, đối với công tác giải quyết án hình sự. Cùng với sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của đất nước, mặt trái từ sự phát triển đó là tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, có chiều hướng tăng lên về số lượng, tính chất của các vụ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, các vụ trọng án ngày một gia tăng, thành phần tội phạm đa dạng, manh động, tinh vi… đặc biệt là sự tham gia ngày càng nhiều của người phạm tội là thanh thiếu niên, đang là nỗi nhức nhối của toàn xã hội. Hiện nay còn xuất hiện các loại tội phạm mới về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, vv. làm cho tình hình an ninh, chính trị của đất nước bị đe dọa.
Chính vì vậy, công tác xét xử của Tòa án đối với các vụ án hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ những thành quả cách mạng, các giá trị tốt đẹp của dân tộc, cũng như bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, góp phần tích cực vào sự phồn vinh của đất nước. Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự Thẩm phán phải thực hiện thẩm quyền tiến hành tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2019 và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Do đó, đòi hỏi Thẩm phán toàn hệ thống Tòa án phải nâng cao năng lực chuyên môn, nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, bản lĩnh chính trị và đạo đức , nỗ lực hơn nữa trong quá trình xét xử đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Thông qua xét xử các vụ án hình sự, Thẩm phán góp phần to lớn vào việc trừng trị kịp thời, có hiệu 11 quả những kẻ phạm tội nhằm duy trì trật tự kỷ cương phép nước, không chỉ buộc bị cáo phải hành xử đúng pháp luật mà còn tạo nên một môi trường bền vững an toàn cho cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động.
Hai là, đối với công tác giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Thẩm phán xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng. Số lượng các vụ án dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động mà Tòa án các cấp phải thụ lý và giải quyết hàng năm tương đối lớn. Đối với quyền xét xử các vụ án kinh doanh thương mại và các vụ án về lao động, đây là mảng khối lượng kiến thức tương đối rộng, đội ngũ Thẩm phán Tòa án lại thiếu kiến thức về thị trường, các quan hệ kinh tế và quan hệ lao động tương đối phức tạp, liên quan đến lợi ích của nhiều bên. NQ 49-NQ/TW nêu nhiệm vụ: Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự.
Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đổi mới thủ tục hành chính trong cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến Toà án, Toà án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn. Ba là, Xét xử các vụ án hành chính: Án hành chính là một trong những loại án có tính chất đặc biệt khi người khởi kiện thường là người dân và người bị kiện là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, là xét xử các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước. Luật tố tụng hành chính 2015 có hiệu lực thi hành đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong khiếu kiện hành chính, mở rộng thẩm quyền giải quyết án hành chính của TAND, do đó số lượng án hành chính tăng nhanh.
Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền. 12 Thứ hai, Thông qua thực hiện hoạt động xét xử của Thẩm phán có vai trò trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông đối với mọi tầng lớp nhân dân Một là, trong hoạt động của Tòa án thì xét xử là trọng tâm, tuy nhiên việc xét xử muốn đạt hiệu quả cao thì không thể thiếu vai trò của hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân thông qua công tác xét xử. Nhận thấy tầm quan trọng của công tác này, Luật tổ chức TAND năm 2018 đã quy định: “Toà án phối hợp với cơ quan, tổ chức phát huy tác dụng giáo dục của phiên toà và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án, quyết định của Toà án” [21, Điều 17]. Tòa án đã tích cực tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân, đặc biệt là thông qua công tác xét xử lưu động các vụ án hình sự.