phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án đƣợc kết cấu với các phần chính sau: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát chất lƣợng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện hoạt động kiểm soát chất lƣợng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 3. Giải pháp bảo đảm kiểm soát chất lƣợng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
8 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 1. Các công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Cùng với nhiệm vụ xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hoạt động nghiên cứu hƣớng tới mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã diễn ra một cách sôi nổi trong giới khoa học pháp lý của Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây. Số lƣợng các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này đa dạng và đƣợc công bố dƣới nhiều hình thức ấn phẩm khác nhau.
Về kiểm soát chất lƣợng dự thảo VBQPPL trong quy trình ban hành VBQPPL ở Việt Nam hiện nay, có một số công trình khoa học quan trọng, có giá trị cao trong khoa học pháp lý. Nhằm phục vụ cho đề tài đã lựa chọn, luận án đi vào tập hợp và phân tích những quan điểm nghiên cứu chủ đạo của các công trình tiêu biểu có liên quan trực tiếp tới các nội dung của luận án. có khá nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đƣợc nhiều học giả tiếp cận với nhiều khía cạnh khác nhau, tiêu biểu nhƣ: Cuốn sách của GS. Lê Minh Tâm “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà Nội 2003 (Tr. Cuốn sách dành rất nhiều nội dung bàn luận về phƣơng hƣớng giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay, trong đó có rất nhiều nội dung bàn về công tác xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật, cuốn sách đã gợi mở nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến nội dung của luận án. Theo tác giả để có thể đảm bảo chất lƣợng của các dự án, dự thảo thì một trong những giải pháp là phải đổi mới phƣơng thức soạn thảo, thẩm định, thảo luận và thông qua văn bản luật và pháp lệnh.
Đối với các VBQPPL quan trọng cần lấy ý kiến rộng rãi trong cán bộ và nhân dân, cần thực hiện theo phƣơng pháp kết hợp tính đại chúng và tính chuyên gia, trong đó phƣơng pháp đại chúng tiến hành trƣớc, sau đó tổng hợp đƣa ra lấy ý kiến chuyên gia. Đồng thời phải đổi mới công tác thẩm định là kết hợp phƣơng pháp thẩm định phản biện của chuyên gia với phƣơng pháp thẩm định chính thức của cơ quan có thẩm quyền, làm rõ thành phần, tiêu chuẩn của thành viên tham gia thẩm định, giá trị của ý kiến thẩm định, trách nhiệm của Ban soạn thảo và cả cá nhân đƣợc giao nhiệm vụ với ý kiến thẩm định. 9 Bên cạnh đó cuốn sách của GS. Nguyễn Minh Đoan “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội. 2020 cũng cho chúng ta một hƣớng nhìn khái quát nhất về hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt có sự phân tích rất chi tiết về chất lƣợng của hoạt động xây dựng pháp luật và chất lƣợng của hệ thống pháp luật, về những hạn chế bất cập của quy trình xây dựng pháp luật ở cả các hoạt động đảm bảo chất lƣợng cho dự thảo VBQPPL nhƣ hoạt động thẩm định hay hoạt động thẩm tra,.Tại sao các hoạt động này lại chƣa có hiệu quả, nguyên nhân do đâu và các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa chất lƣợng của dự thảo VBQPPL nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung. Ngoài ra tác giả nhấn mạnh vấn đề bổ sung quy định của pháp luật về sự tham gia bắt buộc của các nhà khoa học vào quy trình xây dựng pháp luật và vấn đề bảo đảm cơ chế tranh luận công khai, phản hồi bắt buộc của những ngƣời lấy ý kiến đối với những ý kiến đóng góp của những ngƣời góp ý kiến vào việc ban hành VBQPPL. Cuốn sách “Báo cáo nghiên cứu đánh giá quy trình xây dựng Luật, Pháp lệnh – Thực trạng và giải pháp”.
Viện Nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển. NXB Lao động xã hội. Chủ biên Hoàng Ngọc Giao năm 2008 đã có những phân tích đánh giá chuyên sâu về quy trình xây dựng Luật Pháp lệnh trong giai đoạn trƣớc năm 2008. Tất cả các bƣớc trong quy trình xây dựng và ban hành Luật, Pháp lệnh theo quy định của pháp luật cũng nhƣ thực tiễn thực hiện đều đƣợc nhìn nhận một cách thấu đáo.
Các tác giả đƣa ra những nguyên nhân cũng nhƣ những phƣơng hƣớng giải pháp khắc phục những tồn tại yếu kém của hệ thống pháp luật nhằm hƣớng tới một hệ thống VBQPPL chất lƣợng, trong đó có rất nhiều giải pháp liên quan đến đảm bảo chất lƣợng của dự thảo VBQPPL nhƣ lấy ý kiến của ngƣời dân, sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, hoạt động thẩm định, thẩm tra của các cơ quan có trách nhiệm,. Khi nghiên cứu cuốn sách Bàn về hệ thống pháp luật. NXB Chính trị quốc gia 2014, nghiên cứu sinh đặc biệt quan tâm tới bài viết “Quan niệm truyền thống về hệ thống pháp luật và những tác động của quan điểm đó đối với quá trình xây dựng và 10 thực thi pháp luật Việt Nam hiện nay” của TS. Tác giả đã có nhiều bàn luận sâu sắc về khái niệm, các yếu tố cấu thành và đặc điểm của hệ thống pháp luật theo quan điểm truyền thống đồng thời phân tích những tác động ảnh hƣởng của quan niệm truyền thống đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay.
Trong đó tác giả cho rằng chính khái niệm pháp luật và hệ thống pháp luật bám sát khái niệm pháp luật thực định dƣờng nhƣ củng cố thêm tƣ duy làm luật nghiêng về vai trò của Nhà nƣớc, quá coi trọng vai trò của Nhà nƣớc trong quá trình xây dựng và ban hành VBQPPL mà vô hình chung ít coi trọng sự tham gia từ phía xã hội vào quá trình xây dựng pháp luật. Bài viết đã gợi mở những ý tƣởng về việc phải cân bằng sự tham gia cả từ phía xã hội và cả từ phía Nhà nƣớc nhằm hƣớng tới bảo đảm chất lƣợng dự thảo VBQPPL một cách có hiệu quả nhất. Cuốn sách “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay” do PGS. Nguyễn Văn Động chủ biên.
NXB Tƣ pháp 2010 cũng đã có sự đánh giá một cách toàn diện về xây dựng hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh hiện nay hƣớng tới mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm tác giả có những đánh giá sâu sắc về thực trạng pháp luật và công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật ở nƣớc ta cũng nhƣ đề ra các giải pháp xây dựng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời kì đổi mới. Tuy không trực tiếp bàn về kiểm soát chất lƣợng dự thảo VBQPPL song nội dung cuốn sách đã đem lại nhiều giá trị để luận bàn một cách khoa học về đảm bảo chất lƣợng của dự thảo VBQPPL hiện nay ở Việt Nam. Với cuốn sách “Một số vấn đề về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước”.
Nguyễn Minh Đoan. Bùi Thị Đào. Trần Ngọc Định. Trần Thị Hiền.
Lê Vƣơng Long. Bùi Xuân Phái. NXB Chính trị quốc gia. 2009 nghiên cứu sinh quan tâm tới bài viết “Vấn đề đảm bảo tính minh bạch trong một số hoạt động nhà nước” của TS Lê Vƣơng Long, bài viết có bàn đến những nguy cơ thiếu minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nƣớc Việt Nam hiện nay đồng thời đƣa ra một số giải pháp trong đó có giải pháp liên quan đến hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Và để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống cần đổi mới quy trình xây dựng luật theo hƣớng một mặt đa dạng hóa các hình thức để nhân dân góp ý cho 11 dự thảo luật, mặt khác cần có một cơ quan phản biện dự án luật ngoài quy trình thẩm định nhƣ đã có trong Luật Ban hành VBQPPL. Cần hình thành quy trình kỹ thuật tiếp nhận, xử lý ý kiến phản hồi của nhân dân cũng nhƣ của cơ quan phản biện độc lập một cách thực chất và hiệu quả. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ luật học “Vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam. Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trần Quốc Bình 2011 cũng đã nghiên cứu và làm rõ vai trò của Chính phủ trong quy trình xây dựng và ban hành các VBQPPL hiện nay, trong đó tác giả có sự phân tích cặn kẽ vai trò của Chính phủ trong từng giai đoạn của quy trình ban hành VBQPPL, một trong những hoạt động thể hiện rõ vai trò của chủ thể này chính là hoạt động thẩm định, thẩm tra đối với các dự án luật do Chính phủ đệ trình, trong quy trình lập pháp ở nƣớc ta hoạt động thẩm định, thẩm tra đã hình thành nên một giai đoạn bắt buộc.
Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng hoạt động này trên thực tế còn mang nặng tính hình thức và thiếu sự chuyên nghiệp và bàn về những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế tồn tại này. Trần Thị Thu Phƣơng có bài viết “Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật” đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật online2 đã nhấn mạnh trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cần phải chú ý đến là tính hợp pháp, tính thống nhất, tính hợp lý của các văn bản quy phạm pháp luật. Tính hợp pháp, hợp lý và thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể đƣợc đảm bảo khi công tác xây dựng, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đƣợc hoàn thiện. Việt Nam cần phải có một cơ quan lập pháp làm việc chuyên nghiệp hơn để có thể cho ra những văn bản luật có hiệu quả.
Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản lập quy cũng cần đƣợc nâng cao về mặt chất lƣợng.