Tổng quan luận án
Đề tài luận án: "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay".
- Tác giả: Đỗ Văn Thuyết.
- Cơ sở đào tạo: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Bộ Giáo dục và Đào tạo).
- Chuyên ngành: Lý luận Nhà nước và Pháp luật.
- Mã số chuyên ngành: 5-05-01.
- Loại hình văn bản: Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Luật học.
- Người hướng dẫn khoa học: PGS. PTS. Trần Ngọc Đường.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bảo vệ an ninh quốc gia (ANQG) nói chung và an ninh kinh tế (ANKT) nói riêng là chức năng cơ bản của Nhà nước. Tại Việt Nam, quy luật và nguyên tắc chỉ đạo hoạt động thực tiễn là sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh quốc gia. Sự kết hợp này đòi hỏi phải được thể hiện và thực thi trên quy mô toàn xã hội thông qua công cụ quản lý và điều hành bằng pháp luật của Nhà nước.
Trong bối cảnh đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều yêu cầu mới. Cùng với những thời cơ phát triển, xuất hiện các nguy cơ đan xen: các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", triệt để lợi dụng các sơ hở trong công tác quản lý nhà nước để tiến hành hoạt động phá hoại, mà một trong những mục tiêu trọng điểm là lĩnh vực kinh tế đối ngoại (KTDN).
Trong khi đó, hoạt động quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại còn bộc lộ nhiều sơ hở, thiếu sót trong nhận thức cũng như tổ chức thực hiện; hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa trở thành công cụ có hiệu lực và hiệu quả cao. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đổi mới, hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại là một đòi hỏi cấp bách.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại; từ đó góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật về ANQG trên lĩnh vực kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng.
Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ cụ thể):
- Làm rõ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về ANQG trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
- Đánh giá thực trạng của pháp luật thực định và pháp luật "trong hành động" về quản lý nhà nước về ANQG trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
- Phân tích tính tất yếu khách quan của việc đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
- Xác định phương hướng và hệ thống giải pháp cơ bản đổi mới, hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước và hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về góc độ quản lý: Quản lý nhà nước có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp; luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu theo nghĩa hẹp, tập trung vào hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống cơ quan hành pháp.
- Về nội dung: Luận án tập trung vào vấn đề đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và mở cửa kinh tế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các nhóm công trình khoa học có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài:
- Nhóm giáo trình và nghiên cứu kinh tế học: Vấn đề quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng đã được nghiên cứu, biên soạn thành giáo trình giảng dạy tại một số trường đại học. Các tài liệu này chủ yếu tiếp cận dưới giác độ kinh tế học, cơ chế thị trường và điều hành vĩ mô.
- Nhóm đề tài, luận văn pháp lý và an ninh: Một số đề tài khoa học, luận văn tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ, phó tiến sĩ đã bước đầu đề cập đến khía cạnh quản lý nhà nước về an ninh quốc gia và an ninh kinh tế. Tiêu biểu trong số đó là công trình luận án "Tăng cường quản lý Nhà nước về ANQG ở nước ta hiện nay" của tác giả Trần Đại Quang, trong đó đã phân tích cả về lý luận và thực tiễn công tác bảo vệ ANQG, lý luận quản lý nhà nước, đồng thời xác định các nhóm khách thể và chủ thể quản lý nhà nước về ANQG.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết:
Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về kinh tế đối ngoại hoặc về an ninh quốc gia, nhưng cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về vấn đề pháp luật trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Luận án đặt vị trí của mình vào việc kết nối giữa khoa học pháp lý, khoa học quản lý hành chính nhà nước và yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trong điều kiện mở cửa nền kinh tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Học thuyết Mác - Lênin: Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là luận điểm về yếu tố quyết định của kinh tế đối với sự phát triển của xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật. Vận dụng chỉ dẫn của V.I. Lênin về quản lý thực tiễn ("muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn") và vai trò bắt buộc của các quy tắc pháp lý trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Lý luận về Nhà nước và Pháp luật: Sử dụng các khái niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ", chức năng chấp hành - điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và giá trị điều chỉnh xã hội của pháp luật.
- Đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước: Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (với ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Đỗ Mười); Nghị quyết của Bộ Chính trị về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; các quan điểm chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nội vụ (đồng chí Lê Minh Hương); Hiến pháp năm 1992.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Xem xét quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại như một hệ thống hoàn chỉnh gồm chủ thể, khách thể, nội dung, phương pháp và công cụ điều chỉnh.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Rút ra các kết luận lý luận và thực tiễn từ hoạt động quản lý kinh tế đối ngoại và công tác bảo vệ an ninh qua các thời kỳ.
- Phương pháp so sánh và pháp luật so sánh: Đối chiếu các quy phạm pháp luật trong nước qua các thời kỳ (trước và sau Đổi mới), so sánh quy định pháp luật Việt Nam với thông lệ quốc tế.
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp số lượng văn bản quy phạm pháp luật, số lượng hiệp định, các hình thức đầu tư và số liệu liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Phương pháp mô hình hóa, khái quát hóa và xã hội học pháp luật: Phân tích pháp luật trên hai bình diện là "pháp luật thực định" (văn bản quy phạm) và "pháp luật trong hành động" (thực tế áp dụng và tuân thủ pháp luật trong đời sống xã hội).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm:
- Các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 1992; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và các luật sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992, 1996; trên 90 văn bản pháp lý hướng dẫn thi hành; 18 hiệp định bảo hộ đầu tư; Pháp lệnh Lực lượng An ninh nhân dân; Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát nhân dân; Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước; Nghị định số 250/CP quy định về quyền hạn và tổ chức của Bộ Nội vụ; các nghị định quy định thẩm quyền quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ.
- Báo cáo thực tiễn về công tác an ninh, xuất nhập khẩu, du lịch quốc tế, hoạt động của văn phòng đại diện kinh tế nước ngoài.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Quản lý Nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại và vai trò của pháp luật trong quản lý Nhà nước về ANQG trên lĩnh vực này (trang 8 - 45)
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với an ninh quốc gia trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và xác định vị trí, vai trò của công cụ pháp luật:
-
Khái niệm và đặc trưng của quản lý nhà nước về an ninh quốc gia:
- Quản lý nhà nước là sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển.
- Các đặc trưng cơ bản: mang tính tổ chức và điều chỉnh; mang tính quyền lực nhà nước (bảo đảm bằng cưỡng chế); mang tính chủ động, sáng tạo và khoa học; tác động liên tục, thường xuyên.
- Quản lý nhà nước về ANQG (theo nghĩa hẹp) là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước nhằm bảo đảm sự an toàn, bền vững của chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng và đối ngoại.
-
Chủ thể và khách thể quản lý:
- Chủ thể quản lý: Hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương; trong đó Bộ Nội vụ là cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trực tiếp triển khai các biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành.
- Khách thể quản lý: Bao gồm các đối tượng cần bảo vệ (cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức kinh tế - xã hội, lực lượng vũ trang, nhân viên nhà nước, các giá trị an ninh quốc gia) và hành vi của các đối tượng hoạt động gây phương hại đến an ninh quốc gia.
-
Bản chất kinh tế đối ngoại và các hình thức hoạt động chủ yếu:
Kinh tế đối ngoại là tổng thể các hoạt động và quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật với nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Nền kinh tế đối ngoại Việt Nam đã chuyển đổi từ cơ chế nhà nước độc quyền sang cơ chế kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước.
| STT |
Hình thức kinh tế đối ngoại |
Nội dung hoạt động cụ thể |
Yêu cầu quản lý an ninh |
| 1 |
Hợp tác quốc tế về đầu tư |
Đầu tư gián tiếp (vay, viện trợ ODA từ chính phủ, tổ chức quốc tế) và đầu tư trực tiếp (FDI: hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, khu chế xuất, BOT). |
Kiểm soát nguồn vốn, bảo vệ an ninh nội bộ, chống việc lợi dụng đầu tư để thao túng kinh tế hoặc thu thập bí mật nhà nước. |
| 2 |
Hoạt động ngoại thương |
Thương mại quốc tế bao gồm hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và trao đổi dịch vụ. |
Chống buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế, quản lý cấp hạn ngạch (QUOTA), chống phá giá làm rối loạn thị trường. |
| 3 |
Hợp tác khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ |
Chuyển giao công nghệ, hợp tác đào tạo, phối hợp nghiên cứu, trao đổi tài liệu kỹ thuật, hội thảo khoa học. |
Ngăn ngừa việc nhập khẩu công nghệ lạc hậu, kém phẩm chất; chống thất thoát bí mật công nghệ quốc gia. |
| 4 |
Hoạt động dịch vụ đối ngoại |
Du lịch quốc tế, giao thông vận tải, viễn thông quốc tế, dịch vụ ngoại tệ, văn phòng đại diện (VPĐD), khách sạn. |
Ngăn chặn việc lợi dụng danh nghĩa du lịch, VPĐD để xâm nhập, hoạt động tình báo, chiến tranh tâm lý, chuyển tiền bất hợp pháp. |
-
Các nguyên tắc và phương pháp quản lý:
- Nguyên tắc quản lý: Đảm bảo độc lập, chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi; khai thác có hiệu quả lợi thế phân công lao động quốc tế; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ; nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm chính trị; tuân thủ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Phương pháp quản lý: Kết hợp phương pháp tổ chức điều hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phương pháp thuyết phục giáo dục, phương pháp kinh tế và phương pháp cưỡng chế (đặc biệt là cưỡng chế hành chính đối với người nước ngoài vi phạm).
-
Bốn vai trò cơ bản của pháp luật trong quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại:
- Thứ nhất: Pháp luật là phương tiện hàng đầu để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, tạo cơ sở pháp lý và "cây gậy pháp luật" cho lực lượng Công an nhân dân trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
- Thứ hai: Pháp luật là phương tiện bảo đảm cho hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, phòng ngừa và ngăn chặn nguy cơ "chệch hướng", chống âm mưu sử dụng kinh tế để chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch.
- Thứ ba: Pháp luật là phương tiện bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại và giữ vững an ninh quốc gia từ Trung ương đến địa phương.
- Thứ tư: Pháp luật là phương tiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực như trốn lậu thuế, "đầu tư chui", "phá hoại ngầm", nhập khẩu máy móc phế thải, tiêu cực hạn ngạch, vi phạm xuất nhập cảnh và lợi dụng văn phòng đại diện để hoạt động gián điệp.
Chương 2: Thực trạng của Pháp luật trong quản lý Nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại (trang 46 - 100)
Chương 2 khảo sát thực tiễn hệ thống pháp luật trên hai khía cạnh: pháp luật thực định (văn bản quy phạm) và pháp luật trong hành động (thực tiễn áp dụng):
-
Thực trạng hệ thống pháp luật thực định (tiểu mục 2.1):
- Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới, Nhà nước đã từng bước xây dựng khung pháp lý cho kinh tế đối ngoại. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1987 và đã qua 3 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992 và 1996.
- Ban hành trên 90 văn bản pháp lý hướng dẫn và ký kết 18 hiệp định bảo hộ đầu tư với các quốc gia, tạo cơ sở pháp lý công nhận 5 hình thức đầu tư (hợp đồng hợp tác kinh doanh; xí nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; đầu tư khu chế xuất; hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao BOT).
- Hệ thống quy phạm quy định địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các chính sách về tài sản, quyền sử dụng đất, bảo đảm sở hữu vốn và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư.
- Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống pháp luật thực định bộc lộ các hạn chế: tính đồng bộ chưa cao, nhiều quy định còn chồng chéo giữa các bộ ngành; còn thiếu các quy định chi tiết về quy trình phối hợp thẩm định an ninh đối với các dự án đầu tư nước ngoài, quản lý chuyển giao công nghệ và kiểm soát văn phòng đại diện.
-
Thực trạng pháp luật "trong hành động" (tiểu mục 2.2):
- Hoạt động chấp hành và áp dụng pháp luật của các cơ quan quản lý và các chủ thể tham gia kinh tế đối ngoại còn nhiều bất cập.
- Xuất hiện tình trạng buông lỏng quản lý ở một số địa phương, ngành do chạy theo lợi nhuận cục bộ hoặc thiếu kiến thức, kinh nghiệm pháp lý quốc tế.
- Các đối tượng nước ngoài và doanh nghiệp vi phạm lợi dụng kẽ hở pháp luật để thực hiện các hành vi sai phạm:
- Góp vốn liên doanh bằng máy móc, thiết bị lạc hậu, khai khống giá trị tài sản góp vốn để chiếm quyền điều hành liên doanh.
- Hoạt động "đầu tư chui", trốn thuế, gian lận thương mại trong xuất nhập khẩu.
- Tiêu cực trong phân bổ và sử dụng hạn ngạch xuất khẩu (QUOTA), mua bán giấy phép xuất nhập khẩu.
- Lợi dụng hoạt động du lịch, hội thảo khoa học, tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc văn phòng đại diện để thu thập tình báo kinh tế, bí mật nhà nước, tuyên truyền chống phá chế độ.
- Vi phạm quy chế xuất nhập cảnh, cử đoàn ra nước ngoài không đúng đối tượng, tình trạng trốn ở lại nước ngoài hoặc móc nối buôn lậu ma túy, tiền giả.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp cơ bản đổi mới, hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại (trang 101 - 147)
Chương 3 luận giải tính tất yếu khách quan và xây dựng hệ thống phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật:
-
Tính tất yếu khách quan của việc đổi mới và hoàn thiện pháp luật (tiểu mục 3.1):
- Yêu cầu khách quan xuất phát từ sự mở rộng và hội nhập sâu rộng của kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới: Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định hợp tác với Liên minh Châu Âu (EU - 7/1995), bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (7/1995).
- Yêu cầu khắc phục những khiếm khuyết nội tại của cơ chế quản lý cũ và khoảng trống pháp lý của thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Yêu cầu chủ động phòng ngừa, ngăn chặn chiến lược "diễn biến hòa bình", giữ vững độc lập, chủ quyền và định hướng phát triển đất nước.
-
Phương hướng và hệ thống giải pháp cơ bản (tiểu mục 3.2):
- Phương hướng đổi mới:
- Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế đối ngoại gắn với bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng.
- Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch và khả thi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế nhưng giữ vững nguyên tắc chủ quyền quốc gia.
- Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ; giữa quản lý công khai hành chính với các biện pháp nghiệp vụ an ninh chuyên ngành.
- Hệ thống giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện hoạt động lập pháp và lập quy: Rà soát, sửa đổi, bổ sung các đạo luật và văn bản dưới luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài, xuất nhập khẩu, hải quan, du lịch, chuyển giao công nghệ, quản lý ngoại hối và văn phòng đại diện nước ngoài. Bổ sung các quy định bắt buộc về thẩm định yếu tố an ninh trong các dự án hợp tác quốc tế trọng điểm.
- Nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật (pháp luật trong hành động): Xác định rõ chức năng, quyền hạn, chế độ trách nhiệm của từng bộ, ngành (Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Du lịch, Hải quan, Bộ Ngoại giao) và cơ chế phối hợp chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ Nội vụ.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm: Kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật kinh tế đối ngoại, buôn lậu, trốn thuế, vi phạm xuất nhập cảnh, bảo vệ an ninh nội bộ và bí mật nhà nước trong các cơ quan, doanh nghiệp tham gia kinh tế đối ngoại.
- Kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ: Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp lý, chuyên môn ngoại thương và nghiệp vụ an ninh cho đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ chuyên trách bảo vệ pháp luật.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các điểm mới khoa học và đóng góp cụ thể sau đây:
- Đóng góp mới về lý luận:
- Lần đầu tiên chỉ rõ nội dung, đặc điểm của quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
- Phân tích và làm sáng tỏ 4 khía cạnh vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, tạo lập cơ sở lý luận cho hoạt động quản lý thực tiễn.
- Đóng góp mới về thực tiễn:
- Phân tích sâu sắc và toàn diện thực trạng pháp luật thực định cũng như thực trạng pháp luật "trong hành động" điều chỉnh lĩnh vực kinh tế đối ngoại, chỉ ra các sơ hở, bất cập cụ thể làm nảy sinh nguy cơ xâm hại an ninh quốc gia.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và các giải pháp đồng bộ có giá trị định hướng trực tiếp cho hoạt động lập pháp, lập quy và tổ chức thực thi pháp luật nhằm bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu theo nghĩa hẹp của quản lý nhà nước (tập trung vào hoạt động chấp hành - điều hành của hệ thống cơ quan hành pháp), chưa đi sâu vào toàn bộ hệ thống tư pháp và lập pháp.
- Tư liệu và số liệu thực tiễn chủ yếu phản ánh giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới và mở cửa kinh tế (từ sau năm 1986 đến giữa thập niên 1990), do đó một số vấn đề pháp lý mới phát sinh trong các giai đoạn hội nhập sâu hơn chưa được bao quát.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu cơ chế phối hợp cụ thể giữa các thiết chế giám sát chuyên ngành và cơ quan bảo vệ pháp luật trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại đa phương quy mô lớn.
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý phòng ngừa tội phạm kinh tế xuyên quốc gia và các phương thức xâm phạm an ninh phi truyền thống nảy sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo khung phân tích lý luận về quản lý nhà nước, phương pháp tiếp cận kết hợp giữa khoa học pháp lý hành chính và an ninh học tại Chương 1.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy các chuyên đề về Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Hành chính, Luật Kinh tế và An ninh kinh tế.
- Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Tham khảo các luận cứ thực tiễn tại Chương 2 và hệ thống giải pháp lập pháp, lập quy tại Chương 3 để rà soát, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ đầu tư, thương mại và hợp tác quốc tế.
- Lực lượng Công an nhân dân và cán bộ quản lý kinh tế đối ngoại: Tham khảo các phân tích về phương thức, thủ đoạn lợi dụng kẽ hở pháp lý và cơ chế phối hợp liên ngành trong bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại theo nghĩa hẹp được luận án định nghĩa như thế nào?
Theo luận án, quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước nhằm tạo ra môi trường điều kiện thuận lợi về chính trị, pháp luật, loại bỏ các sơ hở, nguyên nhân, điều kiện mà các thế lực thù địch và tội phạm có thể lợi dụng để gây phương hại đến an ninh quốc gia; điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến an ninh, bảo đảm an toàn và ổn định chính trị cho sự phát triển kinh tế đất nước.
2. Luận án phân loại các hình thức kinh tế đối ngoại chủ yếu ở Việt Nam gồm những nhóm nào?
Luận án xác định 4 nhóm hình thức kinh tế đối ngoại chủ yếu:
- Hợp tác quốc tế về đầu tư (gồm đầu tư gián tiếp như vay, viện trợ và đầu tư trực tiếp FDI với 5 hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, khu chế xuất, hợp đồng BOT).
- Ngoại thương / thương mại quốc tế (hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và trao đổi dịch vụ).
- Hợp tác khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.
- Các hoạt động dịch vụ đối ngoại khác (du lịch quốc tế, giao thông vận tải, viễn thông quốc tế, dịch vụ thu đổi ngoại tệ, hoạt động của văn phòng đại diện kinh tế nước ngoài, kinh doanh khách sạn).
3. Bốn nội dung thể hiện vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại là gì?
- Là phương tiện hàng đầu để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thể chế hóa đường lối của Đảng và tạo cơ sở pháp lý cho lực lượng bảo vệ pháp luật.
- Là phương tiện bảo đảm cho hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, phòng ngừa nguy cơ chệch hướng.
- Là phương tiện bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại và an ninh quốc gia trên phạm vi toàn quốc.
- Là phương tiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; ngăn chặn, loại trừ các sơ hở, tiêu cực và hành vi xâm hại an ninh quốc gia.
4. Phân công thẩm quyền giữa Bộ Nội vụ và các cơ quan quản lý ngành về kinh tế đối ngoại được xác định ra sao?
Các cơ quan quản lý ngành (Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Du lịch...) giữ vai trò chính trong việc quản lý chuyên môn, thực hiện nguyên tắc tự bảo vệ nội bộ và chấp hành quy định an ninh. Bộ Nội vụ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ an ninh, đồng thời trực tiếp triển khai các biện pháp nghiệp vụ: kiến nghị, đôn đốc, kiểm tra về an ninh kinh tế đối ngoại; triển khai phương án phản gián; điều tra, vạch trần và xử lý các hành vi tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia.
5. Những hành vi sai phạm cụ thể nào trong thực tiễn "pháp luật trong hành động" được luận án chỉ ra?
Các sai phạm thực tế được chỉ ra gồm: đối tác nước ngoài góp vốn bằng máy móc, công nghệ lạc hậu, kém phẩm chất; hoạt động "đầu tư chui", trốn lậu thuế, gian lận thương mại; tiêu cực trong phân bổ hạn ngạch (QUOTA) và mua bán giấy phép xuất nhập khẩu; lập văn phòng đại diện không phép ("hoạt động chui"); cử người đi công tác nước ngoài sai đối tượng; lợi dụng du lịch, hội thảo, hợp tác kinh tế để móc nối, thu thập bí mật nhà nước, tài liệu kinh tế, tuyên truyền chiến tranh tâm lý và buôn lậu ma túy, tiền giả.
Kết luận
Luận án của tác giả Đỗ Văn Thuyết là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp luật, làm rõ mối quan hệ tương tác giữa phát triển kinh tế đối ngoại và bảo đảm an ninh quốc gia trong giai đoạn đầu chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Bằng việc phân tích toàn diện trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn, luận án đã làm sáng tỏ bản chất, nguyên tắc, phương pháp quản lý và xác định rõ 4 khía cạnh vai trò trọng yếu của pháp luật trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Đồng thời, hệ thống các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện lập pháp và tổ chức thực thi pháp luật được đề xuất trong luận án đã cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng thể chế và bảo vệ chủ quyền, an ninh đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.