lời mở đầu giải thích các chuẩn mực về kiểm toán của Anh: "kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ỷ kiến về những bản khai tài chính của một xi nghiệp? do một kiểm toán viên được bồ nhiệm dé thực hiện những công việc đó theo đúng với bat cứ nghiã vụ pháp định có liên quan ” Hoặc cu thé hơn, có thé dẫn ra quan niém cua cac chuyén gia kiém toán Hoa Ki: "kiểm toán là một quá trình ma qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục dich xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lap". Tương tự như vậy là quan niệm chính thống trong giáo dục và đào tạo ở Pháp: "kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tô chức do một người độc lập, du danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành dé khang định rằng những tài khoản đỏ phản ánh dung dan 3 Nguyễn Quang Quynh (1998), Lý thuyét kiểm toán, Nxb. Tài chính, Hà Nội. 13 tình hình tài chính thực tế không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mau chỉnh thức của luật định.
* Các định nghĩa đã nêu tuy có khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ thê xác định song chung quy đều bao gồm 5 yếu tố cơ bản sau: - Chức năng của kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến (hoặc nghiên cứu và kiểm tra). Đây là yếu tố cơ bản chi phối cả quá trình kiểm toán và bộ máy kiểm toán. - Đối tượng trực tiếp của kiểm toán là các bảng khai tài chính (hay tài khoản niên độ) của các tô chức hay một thực thé kinh tế. Thông thường, các bảng khai này được hiểu là các bang tong hợp kế toán (Bảng cân đối, bảng kết qua, bang chu chuyên tiền tệ.
- Khách thể kiểm toán được xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức. Thực thé hay tổ chức ở đây được giải thích là thực thé pháp lí (một công ty, một đơn vị của chính phủ, một chủ sở hữu) hoặc một bộ phận phụ thuộc thậm chí có thé một cá nhân. - Người thực hiện hoạt động kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ. Quan niệm độc lập ở đây thường được giải thích là có thái độ độc lập hay tính độc lập về nghiệp vụ.
Còn trình độ nghiệp vụ thường được giải thích ở trình độ lựa chọn và tập hợp bằng chứng kiểm toán. Riêng chuẩn mực của Anh khang định kiểm toán viên phải được bổ nhiệm. - Cơ sở thực hiện kiểm toán là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung. Các luật định hoặc chuẩn mực này được giải thích với khái niệm rộng bao gồm cả trong lĩnh vực kế toán và kiêm toán hoặc rộng hơn tuỳ theo từng cuộc kiêm toán.
Với nội dung trên, các định nghĩa đã nêu khá day đủ các mặt đặc trưng cơ bản của kiêm toán. Tuy nhiên, các quan niệm này chỉ phù hợp với kiêm * Nguyễn Quang Quynh (1998), 7ý thuyét kiểm toán, Nxb. Tài chính, Hà Nội, tr. 14 toán tài chính với đối tượng là báo cáo tài chính, do kiểm toán viên độc lập (được bổ nhiệm) tiễn hành trên cơ sở các chuẩn mực chung.
Theo quan niệm thứ hai, kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cô hữu của kế toán. Nội dung của hoạt động này là rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán. Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, với chủ trương đa phương hoá dau tư, đa dạng hoá các thành phần kinh tế, Nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất.
Từ đó sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước bằng kế hoạch, bằng kiểm tra trực tiếp, không thé thực hiện với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, ké cả với các nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí với các doanh nghiệp nhà nước. Cách thức can thiệp của Nhà nước cũng không thê như cũ được nữa. Mặt khác, các nhà dau tư, khách hàng, người lao động. cũng cần có niềm tin vao tài liệu kế toán trong khi họ không có đủ đội ngũ chuyên gia kế toán đông đảo như Nhà nước.
Đồng thời những nhà kinh doanh trong cơ chế thị trường cũng cần biết và tránh những rủi ro thường có. Như vậy, người quan tâm đến thông tin kế toán không chỉ có Nhà nước mà có các nhà đầu tư, nhà quản lí, những khách hàng và người lao động. Do đó, công tác kiểm tra kế toán cần được thực hiện rộng rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực, đủ sức thuyết phục và tạo niềm tin cho mọi người quan tâm. Trong quá trình phát triển, kiểm toán không chỉ giới han ở kiểm toán bảng khai tài chính hay tài liệu kế toán mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lí xã hội, hiệu lực của hệ thông pháp lí trong từng hoạt động.
15 Vì vậy theo quan điểm hiện đại, phạm vi kiểm toán (Audit) rất rộng, bao gồm những lĩnh vực chủ yếu sau’: - Kiểm toán về thông tin (information audit) hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu (thông tin) làm cơ sở pháp lí cho việc giải quyết các méi quan hệ về kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán. - Kiểm toán tính quy tắc (Reguiarity audit) hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các thé lệ, chế độ, luật pháp của đơn vi kiểm tra trong quá trình hoạt động (trước hết là với hoạt động tài chính). - Kiểm toán hiệu qua (Efficiency audit) có đối tượng trực tiếp là sự kết hợp giữa các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất hay dịch vụ. Kiểm toán loại này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện và cải tô hoạt động kinh doanh của đơn vị kiểm toán.
- Kiểm toán hiệu năng (Effectiveness audit) được đặc biệt quan tam ở khu vực công cộng (kể cả các xí nghiệp công và các chương trình đầu tư từ ngân sách) nơi mà lợi ích và hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của nó như trong doanh nghiệp, nơi mà năng lực quản lí cần được đánh giá toàn diện và phát triển thường xuyên nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả quản lí của đơn vị kiểm toán, tất nhiên loại kiểm toán này cũng cần và có thể ứng dụng đối với quản lý toàn bộ doanh nghiệp hoặc với từng bộ phận quản lí của mọi đơn vị kiểm toán. Các quan niệm khác nhau kề trên không hoàn toàn đối lập nhau mà phản ánh quá trình phát triển của cả thực tiễn và lí luận kiểm toán. Có thể minh chứng cho nhận xét này bởi những kết luận chủ yếu rút ra từ sự trình bày trên. > Tran Dinh Tuấn và Đỗ Thi Thúy Phương (đồng chủ biên, 2008), Giáo trình Kiểm toán căn bản, Nxb.
Đại học Thái Nguyên, tr. 16 Là hoạt động độc lập, chức năng cơ bản của kiểm toán là xác minh, thuyết phục để tạo niềm tin cho những người quan tâm vào những kết luận kiểm toán cho dù những kết luận này có thể hướng vào những mục tiêu cụ thể khác nhau như tính trung thực của thông tin, tính quy tắc trong việc thực hiện các nghiệp vụ, tính hiệu quả hay tính hiệu năng của hoạt động. Qua xác minh, kiểm toán viên bày tỏ ý kiến của mình về những lĩnh vực tương ứng. Chức năng này quyết định sự tồn tại của hoạt động kiểm toán.
Với bản chất và chức năng trên, kiểm toán phải thực hiện mọi hoạt động kiểm tra, kiểm soát những vấn đề liên quan đến thực trạng tài chính kê cả thực trạng tài sản, các nghiệp vụ tài chính và sự phản ánh của nó trên số kế toán cùng hiệu quả đạt được. Những loại công việc này tự nó đã gan chat vao nhau. Đó là luận cứ cho việc tô chức kiêm toán khoa học. Nội dung trực tiếp của kiểm toán trước hết và chủ yêu là thực trạng của hoạt động tài chính.
Một phần của thực trạng này đã được phản ánh trên các bảng khai tài chính hay những tài liệu kế toán nói chung. Tuy nhiên, do giới hạn về trình độ và kĩ thuật xử lí thông tin kế toán, có những phan thông tin quan trọng khác về hoạt động tài chính chưa được phản ánh đầy đủ trong các tài liệu. Vì vậy, trong mọi trường họp cần tận dung nhữmg tài liệu kế toán như những bằng chứng đã có làm đối tượng trực tiếp của kiểm toán (kiểm tra chứng từ). Trong trường họp thiêu những bằng chứng trực tiếp này, kiểm toán cần sử dụng những phương pháp kĩ thuật dé tao lập các bằng chứng kiểm toán (kiểm tra ngoài chứng từ).
Dé thực hiện chức năng trên trong phạm vi của hoạt động tài chính với nhiều mối quan hệ phức tạp đòi hỏi kiểm toán phải hình thành một hệ thống phương pháp kĩ thuật riêng bao gồm cả những phương pháp kiểm toán chứng từ (cân đối, đối chiếu logic, diễn giải thông tin, quy nạp nguồn thông tin.) va phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ (điều tra, quan sát, kiểm kê thử 17 nghiệm) thích ứng với đối tượng của kiểm toán và phù hợp với các quy luật và quan hệ của phép biện chứng. Quan niệm thir ba, kiểm toán là một hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành nên hoạt động này phải được thực hiện bởi những người có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu về kế toán và kiểm toán, kiểm toán viên, giám định viên kiểm toán, thâm kế viên, kế toán viên công chứng. Đây là những kiểm toán viên chuyên nghiệp hoạt động hay hành nghề theo pháp luật. Bên cạnh đó có những kế toán viên lâu năm, những nhà quản lí có kinh nghiệm thực hiện cả chức năng kiểm toán nội bộ.
Có thé coi đây là những kiểm toán viên không chuyên nghiệp.