Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG 1. Quan niệm, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, nguyên tắc giám sát cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 1. Quan niệm chung về giám sát thực thi quyền lực nhà nước và giám sát cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Hiên nay, ở nước ta đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước là yếu tố quan trọng bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đúng với bản chất của nhà nước như Hiến pháp 2013 đã khẳng định: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức” [19]. Nhìn nhận dưới góc độ nhà nước, giám sát lấy đối tượng là việc thực thi quyền lực nhà nước, gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.
Giám sát "là sự theo dõi, kiểm tra đối với việc thực thi quyền lực nhà nước". Hoạt động giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước theo nghĩa rộng bao gồm: hoạt động giám sát của Đảng, hoạt động giám sát mang tính quyền lực (Quốc Hội, Hội đồng nhân dân, Tranh tra, Tòa án) và giám sát xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, công dân v. Hoạt động giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước theo nghĩa hẹp bao gồm: hoạt động giám sát mang tính quyền lực (Quốc Hội, Hội đồng nhân 8 dân, Tranh tra, Tòa án) và giám sát xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, công dân v. Hoạt động giám sát chỉ có thể đạt được hiệu quả khi đảm bảo được các điều kiện nhất định về chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tổ chức, tâm lý, văn hóa, trong đó điều kiện về chính trị, pháp luật nói chung và pháp luật về hoạt động giám sát nói riêng đóng một vai trò hết sức quan trọng.
- Đặc điểm của hoạt động giám sát thực thi quyền lực nhà nước: Thứ nhất, chủ thể thực hiện hoạt động giám sát thực thi quyền lực nhà nước luôn có tính độc lập tương đối. Quốc hội, Hội đồng nhân dân độc lập với cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan thanh tra độc lập tương đối với đối tượng thanh tra; Tổ chức xã hội độc lập với cơ quan hành chính nhà nước. Thứ hai, hoạt động giám sát thực thi quyền lực nhà nước được thực hiện bởi trình tự, thủ tục do luật định. Thứ ba, kết quả của hoạt động giám sát thực thi quyền lực nhà nước chủ yếu là kiến nghị, không trực tiếp đưa ra quyết định xử lý.
Thứ tư, hình thức giám sát thực thi quyền lực nhà nước rất đa dạng. Mỗi chủ thể giám sát có hình thức và phương pháp giám sát đặc thù. - Vai trò, mục đích của giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước: Giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước vận hành nhịp nhàng, ăn khớp và thông suốt, chống được lạm quyền, lộng quyền. Tổ chức và hoạt động của quyền lực nhà nước có sự giám sát thì “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” không chỉ tuyên bố trong Cương lĩnh, trong Hiến pháp mà là điều kiện làm cho nó trở thành hiện thực.
Do đó, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước thực chất là để đảm bảo cho tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới xây dựng. Giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước làm cho quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy công quyền, cũng như công vụ 9 của các công chức bộ máy đó: Đạt được hiệu quả cao; Phù hợp với những nguyên tắc cơ bản được thừa nhận chung của nhà nước pháp quyền và được đặt dưới sự kiểm tra của xã hội công dân. Từ quan niệm chung về giám sát như đã nêu trên, có thể quan niệm: Giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là hoạt động do Đảng, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Cơ quan thanh tra nhà nước, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các cơ quan báo chí và công dân thực hiện bằng những hình thức, phương pháp quy định trong Hiến pháp và pháp luật có nội dung là theo dõi, xem xét, đánh giá, phát hiện kịp thời các quyết định hành chính, hành vi hành chính vi phạm Hiến pháp, pháp luật trong quá trình hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, của các cán bộ, công chức trong các cơ quan này, từ đó ngăn ngừa, xử lý hoặc kiến nghị xử lý, góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Chủ thể giám sát cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: - Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.
Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh thẩm quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội còn có thẩm quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69 Hiến pháp 2013) [19]. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện giám sát đối với cơ quan hành chính nhà nước địa phương, gồm ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân các cấp, người đứng đầu các cơ quan và cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan này.
10 - Cơ quan thanh tra nhà nước (thanh tra trách nhiệm). Theo quy định của Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành, hoạt động thanh tra trách nhiệm thực hiện pháp luật chủ yếu thuốc thẩm quyền của các cơ quan thanh tra nhà nước, bao gồm: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Thanh tra sở; Thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Điều 5 Luật Thanh tra năm 2010 quy định Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. [63] - Tòa án nhân dân (xét xử án hành chính); Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định; Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
[19] - Giám sát của xã hội: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Hiệp hội doanh nghiệp, doanh nghiệp; Các cơ quan báo chí của địa phương; Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng và công dân. Nhóm chủ thể giám sát là xã hội giám sát việc thực hiện thẩm quyền quản lý của cơ quan hành chính nhà nước địa phương, gồm ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân các cấp, người đứng đầu các cơ quan và cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan này thông qua việc phát hiện, phản ánh, kiến nghị,. 11 Điều 1, Luật Mặt trận tổ quốc Việt nam năm 2015 quy định:. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
[56] Điều 3, Luật Thanh tra năm 2010 quy định: Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, Điều 28 Hiến pháp 2013 cũng quy định: "Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước." [19] Điều 4, Luật Báo chí năm 2016 quy định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân. [57] Hiệu quả của hoạt động giám sát cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương được đảm bảo bằng hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân,Cơ quan thanh tra nhà nước, Tòa án, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt 12 Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và các hiệu quả giám sát của các tổ chức thành viên của Mặt trận, của các cơ quan báo chí và của công dân.