Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN 1. Một số vấn đề lý luận về hòa giải tranh chấp đất đai 1. Khái niệm và đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai Trong suốt chiều dài lịch sử, đất đai luôn là vấn đề thiêng liêng của mỗi quốc gia, dân tộc.
Đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Đối với mỗi người Việt Nam, đất đai luôn gắn liền với các nhu cầu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Hiện nay, kinh tế - xã hội đất nước ta đang có những bước phát triển khá nhanh, nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng lớn, càng phong phú và đa dạng. Vì rất nhiều nguyên nhân, các tranh chấp đất đai trong nhân dân hiện nay ngày càng nhiều, đa dạng và phức tạp.
Theo quy định tại Điều 53, 54 Hiến pháp 2013, đất đai là một trong những tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực vô cùng quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước được nhân dân trao các quyền quan trọng như: Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, quyết định mục đích sử dụng đất, quy định hạn mức sử dụng đất, quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất, quyết định giá đất, quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, quyết định giao đất, cho thuê đất, quyết định chính sách tài chính về đất đai. Với tư cách chủ thể quản lý đất đai, Nhà nước phải tiến hành nhiều biện pháp thực hiện quyền của mình như: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện; thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.
8 Nhà nước quản lý đất đai trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ đất đai phù hợp, giúp cho các hoạt động khai thác và sử dụng đất có hiệu quả, để đất đai phát huy hết vai trò của nó trong đời sống xã hội. Hoạt động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất. Quyền sử dụng đất của các chủ thể (gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức) được pháp luật ghi nhận và bảo hộ, trong đó xác định quyền sử dụng đất là một dạng tài sản.
Trên thực tế, quyền sử dụng đất là dạng tài sản phổ biến trong nhiều giao dịch dân sự. Hiện nay, đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất. Chính vì lẽ đó, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai sẽ xuất hiện, rất dễ trở nên gay gắt và trầm trọng hơn, nảy sinh tranh chấp đất đai. Theo Luật Đất đai năm 2013, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Tại Việt Nam trong những năm gần đây, tranh chấp đất đai có các dạng phổ biến như: Tranh chấp xác định chủ thể có quyền sử dụng đất, tranh chấp liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Tranh chấp đất đai là sự không thống nhất giữa các chủ thể trong việc xác định ai là người có quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với phần đất đai cụ thể, nó phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình quản lý và sử dụng đất. Chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác, 9 hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng.
Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý hoặc người sử dụng đất. Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất cụ thể. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Trên phương diện quản lý nhà nước đối với đất đai, để xảy ra tình trạng tranh chấp đất đai như hiện nay, các nguyên nhân chủ yếu là: Việc quản lý đất đai còn nhiều thiếu sót, sơ hở do trình độ quản lý yếu kém và do các yếu tố lịch sử để lại; Việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiến hành chậm; Việc lấn chiếm đất đai diễn ra ngày càng phổ biến nhưng không được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Tranh chấp đất đai phát sinh sẽ ra gây hậu quả xấu về nhiều mặt của đời sống xã hội: Gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, các giá trị đạo đức và truyền thống tốt đẹp, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây thiệt hại về kinh tế, đình trệ sản xuất. Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội. Nhà nước – với tư cách là đại diện chủ sở hữu và quản lý đất đai - phải có nhiều cơ chế về mặt pháp lý tương ứng, giải quyết một cách linh hoạt các tranh chấp cho hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Để giải quyết các tranh chấp đất đai có hiệu quả, Nhà nước phải sử dụng nhiều cơ chế khác nhau như hòa giải, yêu cầu Ủy ban nhân dân các cấp giải quyết hoặc khởi kiện ra Tòa án.
Trong đó, hòa giải các tranh chấp đất đai là một giải pháp được ưu tiên đặc biệt, nó xuất hiện ở tất cả các cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai. Hòa giải tranh chấp đất đai là cơ chế giải quyết hết sức phù hợp với truyền thống của người Việt Nam cũng như thực tiễn quản lý, sử dụng đất ở nước ta hiện nay. Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai Để hiểu rõ về khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai, chúng ta cần hiểu tường tận về hòa giải. 10 Về bản chất của hòa giải, theo từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng (năm 1996), thì "hòa giải là thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa".
Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội (năm 1995), thì "hòa giải cũng là giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau, có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp)". Theo từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội (năm 2006), thì "Hòa giải: Thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa. Thông thường, việc hòa giải được tiến hành sau khi thương lượng (khiếu nại) giữa các bên không đạt được kết quả". Các định nghĩa về hòa giải nêu trên đều đề cập đến hòa giải ở nhiều phương diện khác nhau.
Thông qua việc nêu và phân tích những khái niệm trên về hòa giải, ta thấy hòa giải về cơ bản phải có năm yếu tố: Một là, phải có tranh chấp giữa các bên. Tức là ít nhất phải có có hai bên, mỗi bên đều xác định những thứ, những quyền lợi nhất định thuộc về mình và thể hiện ý chí của mình với các bên trong quan hệ tranh chấp. Việc xác định những thứ, những quyền lợi đó ban đầu không nhận được sự đồng ý của các bên còn lại. Hai là, có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp.
Mỗi bên sau khi xác định những thứ hoặc những quyền lợi thuộc về mình nhưng không nhận được thừa nhận của bên hoặc các bên còn lại, đã xuất hiện ý định tạm nhượng bộ lẫn nhau và đi đến thống nhất sẽ cùng hướng đến việc giải quyết tranh chấp. Ba là, trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập để cho ý kiến tư vấn, đưa ra các lời khuyên hoặc các ý kiến về đường lối giải quyết hợp tình, hợp lý cho các bên tranh chấp. Trong nhiều trường hợp, bên thứ ba trung lập có thể là cơ quan, là người có thẩm quyền luật định để công nhận hoặc đề nghị, yêu cầu công nhận kết quả hòa giải giữa các bên tranh chấp, khi việc hòa giải thành công. Nếu không có yếu tố bên thứ ba trung lập tham gia giải quyết tranh chấp, thì quá trình này không được gọi là hòa giải, mà đơn thuần chỉ là sự thương lượng giữa các bên.
Bốn là, tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động hòa giải (các bên tranh chấp và bên thứ ba trung lập) đều phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên.