CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CƠ BAN VE CONG CHUNG HỢP DONG, GIAO DICH VE TAI SAN CUA CON CHUA THÀNH NIÊN 1. Khai niệm, đặc điểm của công chứng hop đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên 1. Khái niệm công chứng hop đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên Khái niệm là một danh từ chỉ sự phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và những mối liên hệ giữa chúng. Đề xác định được bản chất của công chứng hợp đồng, giao dịch về tài sản của con chưa thành niên cần phải làm rõ các yếu tố cấu thành khái niệm thông qua hệ thống các khái niệm có liên quan gồm: công chứng hợp dong, giao dich; tài sản và con chưa thành niên.
* Khái niệm công chứng hợp đồng, giao dịch Xét về mặt từ ngữ, “công chứng” có thé được hiểu là “công quyên làm chứng”. Nhà nước trao một phần quyền lực “công” cho một cá nhân — là công chứng viên (người này phải trải qua quy trình đào tạo, bổ nhiệm chức danh chặt chẽ) dé thay mặt Nhà nước làm chứng/chứng kiến cho việc xác lập, thực hiện các giao dịch. Từ trước đến nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về công chứng được thể hiện ở dạng quan điểm cá nhân hoặc được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước (Thông tư số 574/QLTPK); Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/NĐ-CP ngày 18/05/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (Nghị định 31/NĐCP); Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực; Luật công chứng ngày 29/11/2006 (Luật công chứng năm 2006) và Luật công chứng ngày 20/06/2014 (Luật công chứng năm 2014). Lần đầu tiên khái niệm công chứng được ghi nhận tại Thông tư số 574/QLTPK như sau: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước, nhăm giúp công 10 dân, các cơ quan, tô chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp ly, hợp pháp hóa các văn ban, sự kiện đó, lam cho các văn ban, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện.
Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phan tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.” Với khái niệm này, công chứng là hoạt động mang quyén lực công — “Công chứng nhà nước” với 2 nhiệm vụ là “lập và xác nhận văn ban, sự kiện” và “hợp pháp hóa các văn ban, sự kiện” dé đạt được mục đích là “Jam cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện ”. Nhà nước đã sử dụng quyền lực công của mình dé nhằm bảo đảm hiệu lực, giá trị thực hiện của các giao dịch, sự kiện thông qua hoạt động của Công chứng nhà nước — đây cũng là sự ghi nhận mô hình tổ chức công chứng dau tiên. Ngoài ra, khái niệm công chứng nêu trên còn ghi nhận vai trò “b6 trợ tư pháp” bên cạnh vai trò “quản lý nhà nước bằng pháp luật” thé hiện ở việc “ngdn ngừa vi phạm ” và “giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi”. Nghị định số 45/HDBT đã đưa ra khái niệm công chứng với một số thay đổi: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tinh xác thực các hợp dong và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tô chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tô chức), góp phân phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”. Ö khái niệm này, các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của công chứng vẫn được giữ nguyên. Tuy nhiên, thay vì “lập và xác nhận văn ban sự kiện ” và “hợp pháp hóa các văn ban, sự kiện ” thì khái niệm công chứng trên quy định mục đích công chứng rõ ràng hơn đó là “chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ”. O khái niệm này, giá trị thi hành của văn bản công chứng không được nhắc đến trong khi đó lại lân đâu tiên các nhà làm luật khang định gia trị “chung cứ” của văn bản, giây tờ lãi được công chứng.
Điều này có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Nếu như ở hai khái niệm trên đều không đề cập đến chủ thể công chứng, mà chỉ quy định “công chứng nhà nước là việc .”, thì tại Nghị định 31/ND-CP đã khang định chủ thé công chứng bao gồm “công chứng nhà nước ” và “y ban nhân dân cấp có thẩm quyên”. Cũng tại Nghị định 31/ND-CP này đã có sự phân tách hai hành vi đó là: “chứng nhận của công chứng nhà nước ” và “chứng thực của Uy ban nhân dân cấp có thẩm quyên” thé hiện sự phân công lại công việc giữa các chủ thể công chứng. Nghị định 75/2000/NĐ-CP đưa ra khái niệm công chứng như sau: “công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đông được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dán sự, kinh té, thuong mai va quan hệ xã hội khác (Sau đây gọi là hop dong, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này”.
Như vậy, chủ thé công chứng được xác định là “Phong công chứng”, mục dich công chứng van là “chứng thực tính xác thực ” của hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên, giá tri của văn bản công chứng không được ghi nhận trong khái niệm này. Luật công chứng năm 2006 ra đời thay thế cho Nghị định 75/2000/NĐ-CP đã xây dựng khái niệm công chứng có đầy đủ các yếu tố: chủ thể, mục đích, phạm vi của công chứng, cụ thé: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tinh hợp pháp của hợp dong, giao dịch khác (sau đây gọi là hop dong, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cau công chứng'» Thay đổi quan trọng nhất trong khái niệm này là đã khăng định chủ thê của công chứng chỉ là công chứng viên Hiện tại, khi Luật Công chứng năm 2014 được ban hành và đang có hiệu lực thực hiện thì khái niệm công chứng một lần nữa có sự thay đổi, quy định rõ hơn về chủ thé và mở rộng đối tượng của công chứng: “Công chứng là việc công chứng viên của một tô chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp ' Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2006. 12 của hop dong, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hop dong, giao dich), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy to, văn bản từ Tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang Tiếng Việt (sau day gọi là bản dich) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng v z A Ả Ũ A A A A z yd hoặc ca nhân, tô chức tu nguyện yêu cau công chứng.
Với khái niệm nay, chúng ta có thé xác định được các yếu tố: Thứ nhất, chủ thé công chứng là công chứng viên hành nghề tại một tô chức hành nghề công chứng: Thứ hai, đối tượng công chứng: Hợp đồng, giao dịch, bản dịch. Thứ ba, phạm vi công chứng: (¡) Thực hiện theo quy định của pháp luật: luật quy định hình thức của hợp đồng, giao dịch phải được công chứng; (ii) Thực hiện theo yêu cầu của cá nhân, tô chức. Có thể thấy, tại mỗi một giai đoạn khác nhau, khái niệm công chứng lại có những thay đổi nhất định, sự thay đổi này xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhận thức của người dân và cách nhìn nhận của nhà nước về công chứng. Tuy nhiên, mục đích hướng tới của công chứng là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong giao dịch có sự đồng nhất trong các khái niệm ở tất cả các văn bản nêu trên.
Từ các yếu tố chủ thể, đối tượng, phạm vi công chứng có thé nhận diện: Công chứng hợp đông, giao dịch là một trong những hoạt động của công chứng viên trong hoạt động công chứng nói chung, có đối tượng là hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản. * Khải niệm tài san Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm khác nhau về “tài sản” như: Tai sản là các vật có giá trị bằng tiên và là đối tượng của quyên tài sản và các loi ích vật chất khác. Tài sản bao gồm vật có thực, vật đang ton tại và sẽ có như họa lợi, lợi tức, vật sẽ được chê tạo lại theo mâu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiên và các * Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014. 13 giấy tờ trị giá được bằng tiễn và quyên tài sản `”.
Có thé thay, trong trường hop này, tài sản ở đây được xác định gồm: Vật có giá trị bằng tiền, đối tượng của quyền tài sản và lợi ích vật chất khác. Hoặc BLDS năm 2015 quy định như sau: “Tài san là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” và “Tài sản bao gồm bat động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai””. So sánh hai khái niệm tài sản ở trên, có thể thấy, BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm tai sản dưới hình thức liệt kê cụ thể gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá, quyên tai sản và được phân loại tùy vào đặc tính của từng loại tài sản, gồm: động san/bat động sản; tai sản hiện có/tài sản hình thành trong tương lai; quyền tai san.
Thuật ngữ tài sản có thé được hiểu đơn giản là của cải được con người sử dụng hoặc là vật cụ thể được con người sử dụng, có thể nhận biết được thông qua các giác quan hoặc những vật vô hình được hữu hình hóa thông qua việc xác định giá trị của nó bằng tiên. Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, tài sản là khách thể một trong ba yêu tố cấu thành nên quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu.