Chương 1. MOT SO VAN DE LY LUAN VA QUY DINH CUA PHAP LUAT HIEN HANH VE DIEU KIEN NUÔI CON NUÔI 111. Khai niệm, ban chat, điểm của điều kiện nuôi con nuôi. Khái niệm nuôi con nuôi.
Nuôi con nuôi là một trong những quy định thể hiện tính nhân văn sâu sắc đã ton tai tir lâu trong xã hội Việt Nam. Khái niệm nuôi con mudi có thé được xem xét dưới góc dé xã hội hoặc khia cạnh pháp lý. Dưới góc đồ xã hội: Quan hệ nuối con nuôi có thé tổn tai dưới dang, Midi con nôi theo phong tục tập quán: Ở một sô vùng miền nước ta ‘van còn tập tục nổi ndi, Ndi nòi la một tục lệ phổ biển của người Ê đê. Nói nôi hay còn gọi la juê nê được hiểu là sự thay thé người chồng hoặc vợ đã chết bằng một người khác trong họ hàng (chi/em vợ hoặc anh/em rẻ) để tiếp tục duy trì quan hê hôn nhân, nhằm duy trì dòng ho, noi giống, Tuy nhiên, hiện nay tục nối noi có nhiễu sự thay đổi để phù hop với các chính sách pháp luật hiện nay, đặc biệt đó là tính tự nguyện trong hôn nhân của tục nổi nỏi.
Người Ê Dé sống theo chế độ mẫu hệ, nên việc nói noi theo ho me la một điều quan trong, Vì vậy, trường hợp một người phụ nữ không thé sinh con thì người ta thường. “mda nuôi một người cơn gái đã làm giống, mudn mudi một người con nine chinh minh đã ra dé tránh mắt giống tuyệt nồi”. Người con được nhận nuôi đỏ thường lả con gai của chỉ, em củng họ với người nhân nuôi Bên cạnh tục nối ndi của dân tộc Ê Dé, người Thai, Dao, Sản chỉ cũng có tục nhân con nuôi. Đồi với người Dao, tục cầu con và nhận con nuôi lả một trong những phong tục tập quán điển hình và độc đáo nhất.
Ngué gỐc của 'Nguẫn Panong Len 2010), 2a con madi tf - Tar trưng vì giliphip”, pe ongnpap mts s.201000103/4280/,xgy 03012010, việc nhận con nuôi của người Dao tai Lao Cai không suất phát từ mục đích nuôi con nuôi để nỗi đối tông đường má họ coi việc nuối con nuôi chính ta niềm tin vé sự may mắn đem lại cho gia đình Khi cha mẹ nuôi chết thi di sản thửa kế sẽ được chia đều cho con để và con nuôi, nến con nuối có công sức đóng góp nhiên hon thi được hưỡng phân di sản nhiều hơn đồng thời có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Người nhận con nuôi theo phong tục tập quan co thể xuất phát từ lợi ích của con nuôi hoặc chính ban thân người nhân nuôi con nuôi. Mặc dù, những trường hợp nhân con nuôi theo phong tục tập quán không thực hiện việc đăng ký tại cơ quan nha nước có thẩm quyển nhưng lại được zã hội và công đồng thừa nhận, các bền đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của quan hệ cha me và con trên thực tế "hôi con môi dé Riuiéch trương thanh thé gia dinh: Việc nuôi con nuôi nhằm khuếch trương quyên thé của gia đính thường tổn tại trong các gia định. địa chủ phong kiến trước đây.
Nhiéu gia đính đã có con dé nhận nuôi con nuôi, những đứa trẻ được mudi có thể xuất thân từ những gia đính khá giã, có dia vi ngang hang với gia đình nhận nuôi, nhưng phản lớn là trễ sinh ra trong những gia đính nghèo. Việc nhân nuôi những đứa trẻ từ các gia đình nghèo nhằm mục đích có thêm người lao đông ma không phải trả tiên. Những đứa trế này tuy được nhận lam con nuôi nhưng không có quyển lợi như con đề. “Nôi con nuôi để lấp phúc: Thực tế biện nay, nhiều cha mẹ vì các lý do khác nhau mà quyết định cho con dé lêm con nuôi của người khác với mong muôn cấu an, khöe mạnh, hết bệnh tật, ôm đau.
Việc lựa chọn cha, me nuôi cũng phải hợp tuổi hợp mệnh nhằm “mua may bán rũi” cho con. “Cha me miôi hợp tiỗi sẽ mang lại sutương sinh tránh được những tat ương, vận han đen đãi "5 “hôi con miôi trên danh ngiữa: “Nhôi con nuôi trên danh ng]ữa là việc các bên nhân nhan là cha mẹ nuôi và con nuôi xuất phát từ tình cấm, nhưng không gắn với quyén và ngiữa vụ của cha me và con, không nhằm mục đích hhinh thành quan hệ cha me và con trong thưec té°*. Việc nuôi con nuôi này thường được thực hiện dưới hình thức thoả thuận bằng lời giữa các bên chủ thé. Hai bên thường không sông chung, không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau trên thực tế nhưng vẫn gọi nhau là cha me và con.
Nuối con nuôi trong trường hop này không phụ thuộc vào bat cứ điều kiến nao do pháp luật quy đính, mã chỉ dựa vào tình cảm, sự tự nguyện của các bên, phủ hop với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội. Quan hé cha me vả con trong hình. thức này thưởng chi tốn tai trên danh nghĩa, có ý ngiãa đổi với hai biên chit thể, ma không có ý nghĩa nhiều đối với những người khác trong gia đính của hai bên, những người zùng quanh va xẽ hội. Môi con nuôi thực lổ- “Nudi con nuôi thực tế là hình thức nuôi con môi làm hùnh thành quan cha me và con giữa người nhấn nuôi và người được nhận idm con muôi””.
Hai bên cùng chung sông, gắn bỏ với nhau va thực hiện đây di quyển, nghĩa vụ giữa cha mẹ với con. Quan hệ cha, mẹ con giữa hai bên được ho hảng vả mọi người xung quanh công nhân nhưng không thực hiện thủ tục ding ký nuôi cơn nuối tại cơ quan nhà nước có thấm quyển, mặc dù họ đáp ứng day đủ các điểu kiến nuôi con nuối theo quy đính pháp Tuật hiện hành. ` Ngân Găng G013), “Chagrin tên bồn madi cho cond cầu mn” toe Poem comes tau be me gino: con deca 1960833 ape ngày 071057013 ‘Nguyen Barong Len 2010), Nuôi consi te té- Tex rạng vì gảipáp pe IBongtsplopSutôete cân 901090103200) ngny 0301/2010, ˆ_ Nggyễn Phương Lan G010), “Nuôi cơn môi tục - TÐec tang vì giiphip”, pe bongtn. 90101010300) ngxy 03012010, 10 Khi xem xét nuôi con nuôi đươi góc độ là một quan hệ x hội, việc nuôi con nuôi không đòi hỏi các điều kiện cht chế mà chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh cảm hoặc những lợi ich vat chất nhất định của các bên.
Các "bên trong quan hệ không can được công nhân về mặt pháp lý, ma chỉ xử sự theo những tinh cảm tự nhiên va chuẩn mực đạo đức làm người. Do đó, người được nhận nuôi có thé la bat ky ai, ở độ tuổi nao va không do người nhận nuôi. sinh ta Nhu vậy, dưới góc đô xã hồi, “mỗi con nuôi là một quan hệ xã hội được thiết lập giữa người nhân nuôi con nuôi với người được nhn lầm con môi nhằm hình thàmh quan hệ cha me và con trong thực tế với những mỗi liên hộ gia dinh mỗi, dé thöa mãn những nằm cầu tình cảm. đạo đức hoặc lợi ich nhất dinh của các bên “% Dưới góc độ pháp 1}: Quan hệ giữa cha me nuôi với con nuôi giỗng như quan hệ cha me dé với con đẻ.
Dù là cha me để hay cha mẹ nuôi, con đế hay con nuôi thi déu có quyển va nghĩa vụ như nhau. Cha mẹ có trách nhiêm. 'phải yêu thương, quan tâm, bao vệ, giáo duc con để con phát triển toàn điện. vẻ thể chất, tri tué, đạo đức, trở thảnh người có ich cho gia đính và xã hồi.
Cha mẹ không được phan biệt đối xử giữa các con với nhau hoặc lam dụng sức lao động, xử: giục hay ép buộc con làm việc trái pháp luật và đạo đức sã hội. Con cải “có bổn phận yêu quý, kính trong. biết ơn, hiễu thảo, piung “dưỡng cha mẹ, giit gin danh đc truyền thẳng tốt đẹp của gia đình”. Bên canh những điểm giống nhau như trên, quan hệ giữa cha me nuôi, con.
mudi cũng có sự khác nhau với quan hệ cha me dé, con dé ở sự hình thành. quan hé cha, me, con. Quan hệ cha me dé, con dé được hình thành từ quan hệ thuyết thống, con do cha mẹ trực tiếp sinh ra thi quan hệ giữa cha me nuôi với con nuôi lai được thiết lập từ quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc và phải đưc cơ “Nguyễn Peng Xe (2007), Cơ số hệnvà dục cia Để apy W vd ái cơn Hới 3 TÚ, Thân tin Luật học, Trường Đạt học Tuệ Hà Nội, HANG, Thoần 2,Điều 70, rệt Hôn shòn vì ga đặn 2014 " quan nhà nước cỏ thẩm quyển ra quyết định công nhân Vi vay, khái niềm. nuôi con nuôi đượch như sau: “NHôi conzmôi là việc xác lập quan lộ cha 1 ‘me và con giữa người nhận con ruôi và người được nhận lềm con miôi Theo đó, quan hệ giữa cha, me nuôi va con nuôi được thiết lập một cách lâu dai, bên vững thông qua việc đăng ký tai cơ quan nha nước có thẩm quyên khi các bên có đủ điều kiên theo quy định của pháp luật và vì lợi ích tốt nhất của trế được nhận làm con nui.
Nêu tiếp can hình thức nuôi con nuôi dưới góc đô xã hội không đòi hỏi phi thực hiện thủ tục đăng ký nuôi con nuôi thì đưới góc độ pháp lý quan hệ cha, me nuôi với con nuôi chỉ được công nhận khi các bên thực hiện việc đăng ký tại cơ quan nha nước có thấm quyên. Khái niệm điều kiện nuôi con nuôi Luật Nuôi con nuôi 2010 không những đặt ra điều kiến đôi với người nhận nuôi mả còn đất ra đối với người được nhận nuôi. Chỉ khi đáp ứng tất cả các điều kiện nay thi quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi mới được nha nước công nhận Tuy nhiên, Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng như các văn bản hướng, dẫn chưa có quy định nao giải thích thé nao là điều kiện nuôi con nuôi. Trong thực tế, có nhiễu cách hiểu khác nhau về điểu kiên nuôi con nuôi.
Có tác giã cho rang: Dưới góc đô pháp lý, điều kiện nuôi con nuối là sự thể hiện ý chỉ của nhả nước thông qua các quy phạm pháp luật quy định các điều kiên cần có đổi với các chủ thể có liên quan trong việc cho - nhận con nuôi phủ hợp với mục đích của viếc nuôi con nuôi va trên cơ sỡ đó việc nuôi con nuôi được công nhận là hợp pháp”. "pike Lok Nadi can Hà, ˆ Bùi Tụnh 1?