TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Ki YEU HOI THẢO KHOA HỌC (eắp trường) NUÔI CON NUÔI CÓ YEU TO NƯỚC NGOÀI THEO LUAT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010 Hà Nội — 11/2011 MỤC LỤC Trang ¡ + T8, NGUYÊN GÔNG KHANH Sw hình thành và phat tiễn của pháp luật Viet Nam về nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài š + TRS. HAVIET HUNG Một số điểm mới của Luật nuôi con nuôi năm 4g 2010 về nuôi con nuôi có yêu tổ nước ngoài Tý #T8.VÚBỨGLONG Một số điểm bắt cập của Luật nuôi con nuôi z 2010 về nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài * + Th8. BÙI THỊ THU Nội dung cơ bản của Công ước La Hay về hợp. 3t tác nuôi con nuôi quốc tế và vấn đề thực thi tại Việt Nam + Thẽ.
VŨ THỊ PHƯƠNG LAN So sánh chế định về nuôi con nuôi có yếu tổ nước 40 ngoài trong Luật nuôi con nuôi 2010 với Công ước. Lahaye số 33 ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi + ®TS.NGHÒNG UYÊN BÁC __ Vấn đề nuôi con nuôi trong Hiệp định hợp tác 4“ nuôi con nuối ~ So sánh với Luật nuôi con nuôi năm 2010 eT NGUYEN THÁI MAI Giải quyết xung đột pháp luật về nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài theo Luật nuôi con nuôi năm 2010 + + T8. NGUYÊN PHƯƠNG LAN _ Hộ quả pháp li của việc nuôi con nuôi có yếu tố. ca nước ngoài theo Luật nuôi con nuôi + ©Th6.CHUMẠNHHỮNG — Vấn đề nuôi con nuôi dưới góc độ quyền con ep người + œV.LÊTHJBCHTHUỲ _ Về nguyên the “Chỉ cho làm con nuôi người ở ” nước ngoài khi không thé tim được gia đình thay thé ở trong nước” theo quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010 = _+Th8.
Vấn đồ bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuổi gp ‘con nuôi theo quy định của Công ước quyền trẻ. fem và theo quy định của pháp luật Việt Nam | ®@V.NGUYÊNTHUTHUỲ Hoạt động của tổ chức nuôi con nuôi nước 29 ngoài tal Việt Nam theo Luật nuôi con nuôi 2010 | ®T8.TRĂNMIN4NGỌC ___ Một số vấn đồ pháp lý về thủ lục giải quyếtcho sọ trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài + T8.NGUYÊNHÔNG BẮC _ Vì phạm pháp ludt trong việc giảiquyếtnuôicon cọ, nuôi có yếu tÖ nước ngoài và biện pháp xử lý 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIÊN CUA PHÁP LUẬT VIET NAM VÈ NUÔI CON NUÔI CÓ YÊU TÔ NƯỚC NGOÀI TS. Nguyễn Công Khanh Phó Cục trưởng Cục Con mudi, Bộ Tư pháp” Đặt vẫn đề Nuôi con nuôi là hiện tượng đã xuất hiện từ lâu trên thực tế và du của hầu hết các nước điều chỉnh, hị cả ở Việt Nam trước năm 1945. Tuy al nuôi con nuôi thực sự trở thành mối quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế là kế từ sau chiến tranh thé giới lần thứ nhất và sau đó chính thức được khẳng định là một trong những quyền dân sự cơ bản của trẻ em trong các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng về quyền con người từ sau đại chiến thể giới lẫn thứ hai, Điều đó được lý bởi thực trang xã hội thời kỳ hậu chiến, ở nhiều quốc gia châu Âu hậu quả cl 44 lại biết bao trẻ em bị mồ edi, đói rét lang thang, bệnh tt, mắt hết họ hàng và những.
người thân, không nơi nương tựa, không người căm sóc, nuôi nắng. Yêu cầu có tính nhân đạo và cấp bách đặt ra đối với các quốc gia sau chiến tranh là phải có trách nhiệm. mái ấm gia đình thay thé cho những trẻ em bắt hạnh, kẻ cả việc thu xếp cho làm con nuôi ở ngoài lãnh thé của quốc gia nơi đã sinh ra đứa trẻ, nếu đó thực sự là cần thiết vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, Tuy nhiên, từ mục đích nhân đạo ban đầu, vấn đề cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài (hay còn gọi là con nuôi quốc tế) ngày cảng bị ảnh hưởng bởi tác động của những lợi ích thương mại xung quanh vấn đề này. Vào những năm 70, 80 của thé kỷ trước, thể giới đã chứng kiến những "ding thác" trẻ em từ các nước thuộc khu vực châu Mỹ La tinh và Đông Nam á được nhận lâm con nuôi tại Hoa Kỳ, châu Âu và các quốc.
gia phát tiển khác, trong đó có nhiều trường hợp bị ảnh hưởng bởi lợi ích thương mại. Cho đến nay, chưa có nước nào thông kê được một cách đầy di số lượng trẻ em được trên toàn thé giới (kể cả từ nước nhận và nước cho con nuôi), cũng u phần trăm trong đó bị ảnh hưởng bởi lợi ích thương mại, bởi đây là cùng khó khăn. Theo thống kê sơ bộ ở 10 nước nhận con nuôi nhiều. nhất trên th giới, trong giai đoạn 1980-1989 đã có khoảng 17-18 vạn trẻ em được nhận làm con nuôi; trong giai đoạn từ 1993 đến 1998 chỉ riêng các nước phát triển đã nhận.
trên 100 ngắn trẻ em ở nước ngoài làm con nuôi (xin xem biễu kèm theo). "Trong những năm 80 của thé kỷ trước, những nước cho tré em kim con nuôi người nước ngoài nhiều nhất là Hàn Quốc (61. Tiếp đến thập kỷ 90, những nước đứng đầu trong lĩnh vực cho trẻ em lâm con nuôi người nước ngoài phải kể đến Liên bang Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Goatémala, các nước Đông Âu, Trung Âu như Rumani, Bungari, Anbani. “Trong số các nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi, thì Hoa KY là nước đứng đầu.
Hằng năm, Hoa Kỳ nhận hơn nửa số trẻ em làm con nuôi trên toàn thé giới, trong đó nhiều nhất là trẻ em Nga (năm 1992 Mỹ nhận 1,5 vạn trẻ em Nga, đến năm 1999 nhận 4.398 trẻ em Nga kim con nuôi). Ngoài ra, Pháp, Canada, Italia. cũng là các nước nhận nhiều trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Đi với Việt Nam, một đất nước phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do cuộc chiến tranh để lại, thì việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó có quyển “được làm con nuôi, được chăm sóc, nuôi đưỡng trong môi trường gia đình thay thé đối với những trẻ em bắt hạnh, là điều luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm bảo đảm 2 thực hiện, Kế từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới, cùng với xu thé chung, tình hình người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi cũng ngày càng gia tăng.
Tinh từ năm 1990 đến tháng 10/2002 đã có trên 15.000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi (xin xem biểu 2 kèm theo), trong đó số trẻ. em làm con nuôi tại Mỹ và Pháp chiếm số lượng nhiều nhất. Pháp luật của Nhà nước ta điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước. ngoài nhìn chung là chậm hơn so với nhiều nước, kế cả các nước trong khu vực (Thái Lan ban hành đạo luật riêng về nuôi con nuôi từ năm 1979 — trên cơ sở tách vấn đề con.
nuôi ra khỏi Bộ luật Dân sự và Thương mại; Trung Quốc ban hành luật riêng về nuôi con nuôi từ năm 1993). Có thể khái quất về sự hình thành và phát trién của pháp luật nước ta về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài qua ba giai đoạn: i) giai đoạn trước thời kỳ Dôi Mới (1986 trở về trước); giai đoạn từ Đỗi Mới đến 2002 và ii) giai đoạn từ 2002 đến khi có Luật Nuôi con nuôi 2010, 1. Pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước thời kỳ đổi mới Đây là giai đoạn đắt nước ta tập trung tiền hành hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và thông nhất đất nước. Do đó, hệ thông pháp luật nói chung được ban hành.
chủ yếu để phục vụ mục tiêu chiến lược đồ. Cho nên, có thé nói, trong thời kỳ này (1945 đến 1986) pháp luật nước ta chưa chính thức. chỉnh lĩnh vực nuôi con nuôi. có yếu ổ nước ngoài.
Nguyên nhân còn ở chỗ, nhu cầu về việc cho và nhận con mui chưa nhiều và nếu có phát sinh thì chủ yếu diễn ra giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước. Chính vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16 thing 01 năm 1961 của Chính phủ (được áp dụng ở miền Bắc) là hai văn bản quan trọng nhất trong thoi kỳ này đi chính lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung, nuôi con nuôi nói riêng, chi đề cập đến việc giải quyết nuôi con nuôi trong nước, do Uy ban nhân dân cấp xã đảm nhiệm thông qua chức năng đăng ký hộ ịch. Các việc về hộ tich của ngoại kiều cư tr trên lãnh thê Việt Nam nêu phát sinh thì được tiền hành theo thủ tục như đổi với công dân "Việt Nam với nhau (Điễu 23 Điều lệ đăng ký hộ tịch năm 1961), Sau Đại thẳng mùa xuân năm 1975, miễn Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, cũng là lúc đất nước ta bước vào hời kỳ giải quyết, khắc phục hngu qué do chiến tranh để lại. Nền kinh tế, xữ hội phát tiễn kém, với cơ chế quan liêu bao cấp cộng với nền kinh tế kế hoạch hóa đã làm cho đất nước ngày càng khó khăn.
Thời kỳ này, ở các tỉnh phía Nam do mới trải qua cuộc kháng chiến ác liệt chống Mỹ, nên cỏ rit nhiều tré em rơi vào hoàn cảnh mỗ côi cha mẹ, không côn người thân ho hàng, cô gi chú bác để cưu mang, các cơ sở nuôi dưỡng, bảo trợ xã hội không. ii khả năng để đón nhận về chim sóc và cũng không thu xếp được ngay các gia đình trong nước nhận trẻ em về làm con nuối. Phong trào lá lành đảm lá rách, tương thân tương ái trong họ hàng, gia tộc, ban làng. ngay cảng phát triển.
Nhiều gia đình nhận trẻ em, người tàn tật, thương bình, bệnh bình về chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc nhận làm son nuôi, nhưng phần lớn đều xuất phát từ tình nghĩa yêu thương, dim bọc lấy nhau, chứ không dang ký tại cơ quan nhà nước có thắm quyền theo đúng quy định của pháp luật. Các gia đình nhận trẻ em về nuôi như con đẻ, và ngược lại con nuôi cũng coi bố ‘me nuôi như cha mẹ đẻ, phát sinh tỉnh cảm, nghĩa vụ đối với nhau. Trong bối cảnh đó, có nhiều chuyên gia, cán bộ người nước ngoài vào Việt Nam làm việc, công tác và trước hoàn cảnh của nhiễu trẻ em rơi vào tình trang như vậy, nhiều người muôn nhận 3 các em làm con nuôi. Tuy nhiên, pháp luật nước ta thời kỳ này chưa chính thức quy định.