Chương 1- Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến dé tải vả những van đất ra cẩn tiếp tục nghiên cứu trong luận an Chương 2: Cơ si lý luận v nuôi con nuôi có yêu tổ nước ngoài Chương 3: Thực trạng pháp luật vả tác động ảnh hưởng tới thực tiễn giãi quyết việc nuôi con nuôi có yêu tổ nước ngoai 6 nước ta trong giai đoạn hiện nay Chương 4: Để xuất một s6 giải pháp hoàn thiện pháp luật về nui con nuối có yếu tổ nước ngoài ở nước ta trong tinh hình mới. ul CHUONG1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TÀI VA NHỮNG VAN DE ĐẶT RA CAN TIẾP TỤC NGHIÊN CUU 1. Danh giá tinh hình nghiên cứu trên thé giới Thực trang cho nhận trẻ em Việt Nam lam con nuôi ở nước ngoài đã được phan ánh trong một số công trình nghiên cứu của các cơ quan, tô chức quốc tế va của một số nước. Trong bồi cảnh chung trên thé giới và thực tiễn cho nhận tré em.
làm con nuôi nước ngoải 6 những nước như Rumani, Colombia vao những năm 80 của thé kỹ XX đã khiến các nước phương Tây va các tổ chức quốc tế về quyển trẻ em lo ngại. Trước thực trang đó, Hồi nghị Tư pháp La Hay đã xây dựng "Báo cáo về việc cho nhận trẻ em có nguồn gốc nước ngoài lêm con nuối” [54] dé đánh giá thực tiễn của hoạt động cho nhận trẻ em có nguôn gốc nước ngoài làm con nuôi Bao cáo tổng thể vẻ tình hình cho trễ em có nguồn gốc nước ngoài lâm con nuôi đã phản anh thực trang giãi quyết nuối con nuôi nước ngoái và quy định pháp luật quốc gia về nuôi con nuôi của các nước, nhằm phục vu cho việc xây dựng nội dung. dự thảo CULH 1993 'Vào cuối những năm 90 của thé kỷ trước, Việt Nam va CH Pháp đã chuẩn bị cho việc thiết lập khuôn khổ hop tác song phương vé nuôi con nuôi. Trong bồi cảnh đó, Nghị viên Pháp đã xay dưng vả thông qua "Báo cáo số 410 vé dự án luật phê chuẩn Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa CH Pháp va CH XHCN Việt Nam [71] và "Báo cáo số 2370 về dự án luật phé chuẩn Hiệp định hợp tác về nuôi cho nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam vào những năm 90 của thé kỹ XX, đánh giá mốt số hạn chế của quy định pháp luật có liên quan như việc cho tré em lâm con nuôi không bão đảm yếu tố tự nguyên của cha, me dé hoặc người giám hô của tré em.
Trong quá trình thực hiện Hiếp đính hợp tác song phương giữa Việt Nam và Pháp, Chính phủ Pháp đã xây dựng “Bảo cáo vẻ muối con nuôi năm 2008” [42] 2 đánh giá thực trang việc nuôi con nuối quốc tế ở một số Nước gốc trong đó có tỉnh. hình cho nhân con nuôi ở Việt Nam Theo đó, việc giải quyết nuôi con nuôi có YTNN4 nước ta còn gắn bỏ mật thiết với các khoản hỗ trợ nhân đạo, các tổ chức con nuôi nước ngoài có ngiĩa vụ thực hiện hỗ trợ nhân đạo đồng thời với hoạt đồng nuôi con nuôi Trước thực tiễn một sô nước như Mỹ, Thụy Điển, Ailen không tiếp tục gia hạn Hiệp định hợp tác song phương về nuôi con nuối với Việt Nam, ISS và Quy bảo vệ nhỉ đồng của LHQ đã lập báo cáo đánh gia tinh hình cho nhận con nuôi ở Việt Nam “Bao cáo năm 2009 vẻ tình hình cho nhận con nuôi ở Việt Nam: những phat hiện va khuyến nghĩ [66] Báo cáo năm 2009 đã đánh giá thực trang giãi quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài ở Việt Nam, chỉ ra những điểm hạn chế cơ bản của các quy định pháp luật về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có YTNN nói riêng và đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện tình hình cho nhận con nuôi nước ngoài ở Việt Nam, tiến tới hoán thiện pháp luật. Nhằm góp ý hoản thiện dự án Luật nuôi con nuôi, ISS đã xây dựng “Ban góp ý du án Luật nuôi con nuôi [67], theo đó tổ chức quốc tế nay khuyến nghị Việt ‘Nam không nên dua van dé khuyến khich hỗ trợ nhân đạo trong dự án luật. Van dé hỗ trợ nhân dao nên được điều chỉnh trong một văn bản QPPL khác.
Sau khi Luật nuôi con nuôi có hiệu lực thi hảnh, ISS đã đảnh giá tỉnh hình giãi quyết việc nuôi con nuôi có YTNN ở Việt Nam và nêu ra một số khiếm khuyết của Luật nuôi con. nuôi [68], [69], [70] như vẫn để cho trẻ em khuyét tất, trẻ em mắc bệnh hiểm. nghèo lâm con nuôi, vẫn để giải quyết nuôi con nuôi trong gia đình ho hàng và hỗ trợ nhân đạo Về các công trình nghiên cứu cả nhân, Selman Peter đã thống kê số liệu trẻ em trên thé giới va trẻ em Việt Nam được cho lam con nuôi của các nước trên thé giới [53]. Số liêu giải quyết việc nuôi con nuôi của các nước trên thể giới vả Việt Nam đã được đăng tai trên trang thông tin điện từ của Hội nghị TPQT La Hay va số liêu trích dẫn tại các bảng, biểu của luận án.
Số liệu nuôi con nuôi quốc tế của 'Việt Nam từ năm 2003 đến 2013 chiếm gan 8% tổng số trẻ em được giải quyết lam 13 con nuối nước ngoài của các nước châuA bao gồm Trung Quốc, Han Quốc, An Độ, Philippines, Thai Lan va Việt Nam. Smolin David [52] và Nigel Cantwell [60] đã nghiên cửu và lập báo cáo vẻ tình hình mua bán trẻ em để cho lảm con nuôi trên thể giới. Boechat Hervé [40] nghiên cứu “Những ving 2am trong việc cho nhân nuôi con nuối quốc tế", đã đề cập dén van dé “tay rửa” (blanchissement) tré em để cho làm con nuôi, trong đó có nên một số vụ việc cụ thể như ở Nam Định Nigel Cantwell [68] nghiên cứu việc cho trẻ em khuyt tật, trễ em mắc bệnh hiểm nghèo (hay còn goi là trễ em có nhủ cầu chăm sóc đặc biét) làm con nuôi quốc té, trong đó có một số đánh giá vẻ hoạt đồng cho nhận con nuôi quốc té ở Việt Nam. CULH 1993 là ĐƯỢT đa phương quan trọng, có khoảng hơn 98 nước thánh viên và có hiệu lực thi hảnh được 25 năm.
Đánh gia 20 năm tỉnh hình thực thi Công ước, Ban Thường trực CULH năm 2015 đã zây dựng "Báo cáo 20 năm thực thi Công ước La Hay 1993” [63] đánh giá kết quả và những thách thức thực hiện Công ước, tác động của Công tước tới thực trang hiến nay, theo đó số lượng trẻ em trước ngoài được giải quyết cho lam con nuối quốc tế giảm mạnh trong khi đó chỉ ất việc nuôi con nuôi quốc tế lại tăng và thời gian giải quyết lai kéo dài Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đánh giá sâu sắc thực trạng giải quyết cho tré em nước ngoài làm con nuôi ở những nước phát triển của Châu Âu va Châu Mỹ, trong đó có trễ em Việt Nam; đẳng thời chỉ ra những lam dung trong qua trình. giải quyết nuôi con nuôi có YTNN vào cuối những năm 90 của thế kỷ 2X [45], [S1] Việc cho nhân con nuôi không tuân thủ điều kiện của trẻ em được cho lam con nuôi, ý kiến đồng ý của cha me dé và van dé thiểu minh bach tài chỉnh trong việc tiếp nhận các khoản hỗ trợ nhân đao. Các công trình nghiên cửu đã phân tích sâu sắc thực trang thiểu bao đăm pháp lý trong việc giải quyết nuôi con nuôi có Y TNN ở nước ta trong những giai đoạn. trước khi Nghị định số 68/2002/NĐ-CP có hiệu lực thí hành.
Trước thực trang đáng cảnh báo đó, các cơ quan có t quyển của Việt Nam đã đứng cho trễ em 4 lâm con nuôi ở nước ngoài để chân chỉnh vả thay đổi quy định pháp luật có liên quan Qua “Bao cáo năm 2009 vẻ tình hình cho nhận con nuôi ở Việt Nam: những phát hiện và khuyến nghỉ" của ISS [66] cho thay nhu cầu nhân con nuôi của người nước ngoài đã có ảnh hưởng to lớn đổi với việc giải quyết cho tré em Việt Nam lâm con nuôi nước ngoai trong những giai đoạn trước năm 2010 [66]. Trước sức ép của nhu cầu nhận con nuôi của người nước ngoài, một số lượng lớn trễ em được cho làm con nuôi ở nước ngoài đều thuộc điện tré em bị bổ rơi "Nhu cầu nhận con nuôi của người nước ngoài va việc cho nhân con nuôi gắn với các khoản tải chính lả những yêu tổ gây tác đông manh tới nguôn gốc tré em bị bö rơi được cho làm cơn nuôi ở nước ngoài. Quy trình giãi quyét việc nuôi cơn audi có YTNN ở Việt Nam trước khi Luật nuôi con nuôi có hiệu lực thi hành được. cho là không phủ hợp với chuẩn mực quốc tế, không nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của trẻ em mả ngược lại vi nhu cầu của người nhận con nuôi.
Nói cách khác, pháp luật nước ta cho phép người nước ngoài trực tiép đi tim kiếm tré em để nhận. lâm con nuôi, chứ không phải tim một gia đỉnh phủ hợp cho trẻ em. Quy đính tại khoản 3 Điều 58 của Nghỉ định số 68/2002/NĐ-CP yêu cầu các tổ chức con nuôi nước ngoải hoạt động về nuôi cơn nuôi ở Việt Nam phải có chương trình, du án hoạt động nhân dao, hỗ trợ kỹ thuật. Điều nay dẫn đến thực trang việc giải quyết nuôi con nuôi có YTNN gin trực tiếp với các khoản hố trợ nhân đạo.
Quy đính này cũng trai với nguyên tắc jus cogens của CULH 1993, theo đó việc giải quyết nuôi con nuôi phải tách bạch với các khoản hỗ trợ nhân dao. Các công trình nghiên cửu quốc tế chỉ cho chúng ta thấy vai trò của Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan trung ương về nuối con nuôi quốc tế còn có nhiễu han chế, cần phải tăng cường chức năng, nhiêm vụ va thẩm quyển trong việc quản ly nhà nước về nuôi con nuối có YTNN và theo dối thi hành pháp luật [67] Qua các công trình nghiên cửu quốc tế cho thay nuôi con nuôi có YTNN 1a một vấn để phức tap, liên quan trực tiếp đến quyển vả lợi ích của trẻ em là đổi tương yếu thé dé bị xâm hai. Theo các tổ chức quốc tế như LHQ, Viện nhất thể hóa từ pháp (Unidroit), Héi đồng châu Âu, việc cho nhân con nuôi quốc té phải có sự 15 can thiệp, kiểm tra và giám sát chất chế của các nước. Vi vậy, các nước phải có sự hợp tác, chia sé thông tin va kip thời ngăn chấn những cách thức thực hiến trái pháp luật và chuẩn mực quốc tế Về lý luân TPQT, các công tình nghiên cửu đã chỉ cho thấy trong qua trình.