Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" được nghiên cứu sinh Phạm Thị Kim Anh thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Đức Long và TS. Bùi Xuân Như, bảo vệ thành công trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường năm 2019.
Về tính cấp thiết, hoạt động cho và nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài (YTNN) tại Việt Nam bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử cuối những năm 70 của thế kỷ XX với chiến dịch Babylift (đưa hơn 3.000 trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, thất lạc cha mẹ ra nước ngoài làm con nuôi tại Pháp, Canada, Thụy Điển...). Trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2015, Việt Nam tiếp tục giải quyết cho hơn 12.000 trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài, chủ yếu tại các quốc gia phát triển như Pháp, Mỹ, Canada, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Italy, Tây Ban Nha. Việt Nam giữ vai trò là "Nước gốc" (nước cho trẻ em làm con nuôi), đối lập với các "Nước nhận".
Từ ngày 01/02/2012, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước La Hay ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (CULH 1993), chuyển đổi cơ chế hợp tác từ quan hệ song phương sang đa phương. Cùng với sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật mới (Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hộ tịch 2014, Luật Trẻ em 2016), Luật Nuôi con nuôi năm 2010 cùng Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đã bộc lộ những khoảng trống, bất cập. Hoạt động cho nhận con nuôi có YTNN giảm mạnh về số lượng trong khi số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng hoặc cơ sở nuôi dưỡng (CSND) cần tìm gia đình thay thế vẫn còn lớn; về chất lượng, quy trình giải quyết vẫn còn tình trạng gắn với các khoản hỗ trợ tài chính, nhân đạo, chưa đáp ứng đầy đủ nguyên tắc bắt buộc chung (jus cogens) của CULH 1993. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNN là yêu cầu cấp thiết phục vụ việc sửa đổi Luật Nuôi con nuôi.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi có YTNN của Việt Nam trong mối tương quan với CULH 1993, pháp luật của các Nước nhận và hệ thống pháp luật trong nước; từ đó xác định sự cần thiết và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện. Để đạt mục đích này, tác giả thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận cơ bản của pháp luật về nuôi con nuôi có YTNN: khái niệm, chủ thể, điều kiện, hệ quả pháp lý và việc công nhận quyết định nuôi con nuôi ở Nước nhận.
- Phân tích thực trạng pháp luật, mức độ nội luật hóa CULH 1993 và đánh giá tác động của thực trạng pháp luật tới thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi có YTNN tại Việt Nam.
- Làm rõ các quan điểm, định hướng, ý nghĩa và sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNN.
- Đề xuất các giải pháp đồng bộ hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có YTNN trong tình hình mới.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được xác định gồm:
- Câu hỏi 1: Mối quan hệ giữa pháp luật nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có YTNN nói riêng với pháp luật về trẻ em được điều chỉnh như thế nào để bảo đảm nuôi con nuôi là biện pháp chăm sóc thay thế vì lợi ích tốt nhất của trẻ em?
- Câu hỏi 2: Có nên xã hội hóa một số nhiệm vụ trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi không?
- Câu hỏi 3: Pháp luật về nuôi con nuôi có YTNN có cần điều chỉnh hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi không?
Tương ứng với các câu hỏi trên, luận án xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu:
- Nuôi con nuôi có YTNN là giải pháp cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em cần tìm gia đình thay thế; tuy nhiên việc gắn với hỗ trợ nhân đạo tác động mạnh tới việc trẻ em bị bỏ rơi hoặc tách khỏi gia đình.
- Pháp luật hiện hành chưa liên thông giữa chế định nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có YTNN; chính sách bảo trợ xã hội chưa đủ mạnh để bảo đảm nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước.
- Pháp luật thiếu vắng quy định xác định luật áp dụng đối với điều kiện, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có YTNN, thẩm quyền và công nhận quyết định nuôi con nuôi, làm ảnh hưởng đến cơ chế bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam ở nước ngoài.
- Việc thiếu quy định về tổ chức con nuôi trong nước dẫn đến quy trình giải quyết chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa đáp ứng yêu cầu khi Việt Nam đã gia nhập CULH 1993.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của Luật Nuôi con nuôi 2010, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, các thông tư hướng dẫn và văn bản pháp luật liên quan (dân sự, hôn nhân và gia đình, hộ tịch, trẻ em); thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi có YTNN; mối quan hệ phụ thuộc giữa pháp luật Nước gốc và pháp luật Nước nhận.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số Nước nhận nhiều trẻ em Việt Nam như Pháp, Tây Ban Nha, Italy, Thụy Sĩ, Canada.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát các quy định pháp luật và số liệu thực tiễn từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân tích và điểm lại hai nhóm công trình nghiên cứu chính trên thế giới và trong nước:
Về tình hình nghiên cứu trên thế giới:
- Báo cáo của Hội nghị Tư pháp quốc tế La Hay (1993) về việc cho nhận trẻ em có nguồn gốc nước ngoài làm con nuôi, đặt nền tảng cho CULH 1993.
- Các báo cáo của Nghị viện Pháp (Báo cáo số 410 và Báo cáo số 2370) phê chuẩn Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa CH Pháp và CHXHCN Việt Nam; Báo cáo năm 2008 của Chính phủ Pháp đánh giá việc nuôi con nuôi có YTNN tại Việt Nam gắn với hỗ trợ nhân đạo.
- Báo cáo năm 2009 của Dịch vụ Xã hội Quốc tế (ISS) và UNICEF về tình hình cho nhận con nuôi tại Việt Nam; Bản góp ý dự thảo Luật Nuôi con nuôi năm 2010 của ISS; các báo cáo đánh giá khiếm khuyết của Luật Nuôi con nuôi giai đoạn sau 2011 của ISS liên quan đến trẻ em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo và hỗ trợ tài chính.
- Các công trình cá nhân quốc tế: Selman Peter (thống kê dữ liệu nuôi con nuôi quốc tế); Smolin David và Nigel Cantwell (nghiên cứu phòng ngừa mua bán trẻ em); Boechat Hervé (nghiên cứu vấn đề "tẩy rửa" giấy tờ trẻ em làm con nuôi); Báo cáo 20 năm thực thi CULH 1993 của Ban Thường trực Hội nghị La Hay (2015); các phân tích của Cơ quan con nuôi Pháp (AFA) và phán quyết của Tòa sơ thẩm Paris về công nhận con nuôi giản đơn và con nuôi trọn vẹn.
Về tình hình nghiên cứu trong nước:
- Giai đoạn trước Luật Nuôi con nuôi 2010: Nghiên cứu của TS. Dương Thanh Mai và ThS. Đinh Bích Hà (thập niên 1990) về điều ước quốc tế nuôi con nuôi; Vũ Ngọc Bình (2000) về nuôi con nuôi như một biện pháp bảo trợ xã hội; đề tài cấp Bộ của TS. Vũ Đức Long (2005) về hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu gia nhập CULH 1993; các nghiên cứu và bình luận khoa học của TS. Nguyễn Công Khanh (2000, 2005) về xung đột pháp luật và hệ thuộc luật (lex nationalis, lex domicilii); các luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Bắc, Nguyễn Công Khanh về quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình có YTNN; luận án tiến sĩ của Nguyễn Phương Lan về chế định nuôi con nuôi ở Việt Nam (đề xuất bổ sung hủy bỏ nuôi con nuôi và hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn); nghiên cứu của TS. Nông Quốc Bình về nguyên tắc lex loci actus.
- Giai đoạn sau khi Luật Nuôi con nuôi 2010 có hiệu lực: Các luận văn thạc sĩ luật học của Vũ Kim Dung (2013), Nguyễn Thị Phương Thu (2014); các đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Bộ Tư pháp về xây dựng Luật Tư pháp quốc tế, thực thi cam kết quốc tế về quyền con người; Hội nghị sơ kết 6 năm thi hành Luật Nuôi con nuôi và CULH 1993 do Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp tổ chức năm 2016.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trong nước trước đây tập trung vào các văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực (Luật HN&GĐ 2000, BLDS 2005, Nghị định 68/2002/NĐ-CP), tiếp cận nuôi con nuôi có YTNN thuần túy lồng ghép trong quan hệ hôn nhân gia đình mà chưa phân tích chuyên sâu dưới góc độ tư pháp quốc tế đa phương. Mặt khác, các nghiên cứu quốc tế chủ yếu dừng lại ở việc phản ánh thực trạng và khuyến nghị chính sách bằng tiếng Anh/tiếng Pháp mà chưa luận giải toàn diện cơ chế xung đột pháp luật, mối quan hệ phụ thuộc giữa Nước gốc và Nước nhận, sự thiếu liên thông giữa nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài, cũng như việc nội luật hóa các nguyên tắc jus cogens của CULH 1993 vào hệ thống pháp luật Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện hệ thống pháp luật, trọng tâm là Nghị quyết số 48/2005/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
Khung lý thuyết của luận án tiếp cận hệ thống pháp luật nuôi con nuôi qua 4 yếu tố trụ cột: hệ thống nguồn luật thực định, thiết chế bảo đảm thực hiện, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo nhân lực chuyên môn. Luận án vận dụng các lý thuyết tư pháp quốc tế về xung đột pháp luật và hệ thuộc luật (lex nationalis - luật quốc tịch, lex domicilii - luật nơi cư trú, lex loci actus - luật nơi thực hiện hành vi), cùng các nguyên tắc bắt buộc chung (jus cogens) theo CULH 1993 và Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, nguyên tắc nuôi con nuôi có YTNN là biện pháp thay thế cuối cùng, và nguyên tắc tách bạch giữa giải quyết nuôi con nuôi với các khoản hỗ trợ tài chính, nhân đạo).
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và bình luận: Làm rõ các quy định thực định của Luật Nuôi con nuôi 2010, sự khác biệt giữa nuôi con nuôi trong nước và có YTNN, tính tương thích với CULH 1993.
- Phương pháp luật học so sánh: So sánh đối chiếu pháp luật Việt Nam với CULH 1993 và pháp luật của các Nước nhận (Pháp, Tây Ban Nha, Italy, Thụy Sĩ, Canada) về điều kiện, thủ tục và hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi.
- Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa: Khái quát hóa thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi có YTNN, cấu trúc lại các vấn đề lý luận và xây dựng hệ thống giải pháp logic, đồng bộ.
- Phương pháp rà soát văn bản và phân tích thực tiễn: Đánh giá quá trình thi hành pháp luật qua các thời kỳ, khảo cứu các số liệu từ các báo cáo quốc tế và tài liệu thống kê của Bộ Tư pháp.
Nguồn dữ liệu và tư liệu thống kê của luận án:
| Danh mục phụ lục |
Nội dung dữ liệu thống kê cụ thể |
Giai đoạn / Năm dữ liệu |
| Phụ lục A (Số liệu giải quyết con nuôi có YTNN ở Việt Nam) |
- Số liệu trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài (Bảng 1, Biểu đồ 1) - Số lượng trẻ em được giải quyết làm con nuôi nước ngoài theo đối tượng trẻ em (Bảng 2, Biểu đồ 2) - Diện trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài (Biểu đồ 3) - Tổng số trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài |
- 1990 - 1996 - 2011 - 2018 - 2011 - 2018 - 2003 - 2015 (>12.000 trẻ em) |
| Phụ lục B (Số liệu giải quyết con nuôi quốc tế trên thế giới) |
- Tỷ lệ giải quyết nuôi con nuôi quốc tế (Bảng 1, Biểu đồ 1) - Số liệu giải quyết con nuôi quốc tế ở Châu Á (Bảng 2, Biểu đồ 2) - Số liệu giải quyết con nuôi quốc tế ở Châu Phi (Bảng 3, Biểu đồ 3) - Số liệu giải quyết con nuôi quốc tế ở Đông Âu (Bảng 4, Biểu đồ 4) - Số liệu giải quyết con nuôi quốc tế ở Châu Mỹ La-tinh (Bảng 5, Biểu đồ 5) |
- Các năm 2005, 2007, 2009 - 2003 - 2013 (VN chiếm ~8% Châu Á) - 2003 - 2013 - 2003 - 2013 - 2003 - 2013 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Chương 1 tổng kết các công trình khoa học trong và ngoài nước, chỉ rõ những kết quả đã đạt được và những hạn chế về mặt lý luận, thực tiễn. Tác giả chỉ ra rằng hoạt động nuôi con nuôi có YTNN trên thế giới đã chuyển từ việc thỏa thuận dân sự cá nhân sang nhiệm vụ trách nhiệm của Nhà nước (Affaire d'État), đòi hỏi sự hợp tác đa phương theo CULH 1993.
Chương này xác định ba vấn đề lớn cần tiếp tục giải quyết:
- Tiếp tục nội luật hóa các nguyên tắc bắt buộc chung (jus cogens) của CULH 1993 vào pháp luật Việt Nam (nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước, nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tách bạch nuôi con nuôi với hỗ trợ nhân đạo, bổ sung chế định tổ chức con nuôi trong nước và quy định chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi).
- Xây dựng cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật, đặc biệt là cơ chế tài chính minh bạch và cơ chế liên thông giữa nuôi con nuôi trong nước với nuôi con nuôi có YTNN, chuyển đổi các biện pháp chăm sóc thay thế.
- Tăng cường chức năng, thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước, chuyên môn hóa và xã hội hóa một số nhiệm vụ trong quy trình giải quyết nuôi con nuôi.
Chương 2: Cơ sở lý luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Chương 2 làm rõ bản chất pháp lý của nuôi con nuôi có YTNN dưới hai góc độ: vừa là một sự kiện hộ tịch làm thay đổi tình trạng nhân thân, vừa là một quan hệ pháp luật dân sự - hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài.
Theo khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010, nuôi con nuôi có YTNN bao gồm việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài. Điều 28 Luật Nuôi con nuôi 2010 phân chia cụ thể thành các trường hợp: (i) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước là thành viên điều ước quốc tế với Việt Nam; (ii) Nhận con nuôi đích danh (cha dượng, mẹ kế; cô, cậu, chú, bác ruột; nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS, mắc bệnh hiểm nghèo; người nước ngoài làm việc, học tập tại Việt Nam từ 01 năm trở lên); (iii) Công dân Việt Nam thường trú trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.
Chương này phân tích sâu mối quan hệ giữa pháp luật Nước gốc và Nước nhận trong việc công nhận quyết định nuôi con nuôi và hệ quả pháp lý:
- Việc đương nhiên công nhận quyết định nuôi con nuôi theo CULH 1993 giữa các quốc gia thành viên.
- Việc công nhận ngoài khuôn khổ CULH 1993.
- Xử lý xung đột pháp luật về hình thức nuôi con nuôi giữa pháp luật Việt Nam và Nước nhận (như việc phân biệt giữa con nuôi đơn giản và con nuôi trọn vẹn theo pháp luật Cộng hòa Pháp, dẫn đến việc phải tiến hành lại thủ tục hoặc chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi tại Nước nhận).
Chương 3: Thực trạng pháp luật và tác động ảnh hưởng tới việc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Chương 3 tập trung phân tích những bất cập trong việc nội luật hóa CULH 1993 và thực tiễn thi hành:
- Bất cập về lập pháp: Thiếu quy định xác định rõ phạm vi áp dụng của CULH 1993; thiếu quy phạm xung đột giải quyết các trường hợp nuôi con nuôi có YTNN giữa các nước; thủ tục giải quyết chưa đồng bộ; thiếu vắng quy định về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có YTNN đối với quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi sang Nước nhận.
- Thực trạng triển khai CULH 1993: Phân tích việc tuân thủ các nguyên tắc của Công ước và thực tế quản lý người nước ngoài nhận con nuôi.
- Tác động tiêu cực tới thực tiễn:
- Hiện tượng lẩn tránh áp dụng CULH 1993 và quy trình giới thiệu con nuôi thông thường thông qua việc lạm dụng quy định cho nhận con nuôi đích danh đối với diện trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo.
- Tình trạng giải quyết nuôi con nuôi có YTNN vẫn bị ràng buộc hoặc gắn liền với các khoản hỗ trợ tài chính mang tính nhân đạo của cha mẹ nuôi hoặc tổ chức con nuôi nước ngoài cho các cơ sở nuôi dưỡng, vi phạm nguyên tắc tách bạch tài chính.
- Thiếu sự liên thông giữa hệ thống bảo trợ xã hội, các biện pháp chăm sóc thay thế trong nước với quy trình tìm gia đình thay thế ở nước ngoài.
Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta trong tình hình mới
Chương 4 xác định các quan điểm hoàn thiện pháp luật theo định hướng bảo vệ quyền trẻ em, tuân thủ cam kết quốc tế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:
- Tiếp tục nội luật hóa CULH 1993: Sửa đổi Luật Nuôi con nuôi để cụ thể hóa các nguyên tắc bắt buộc chung, quy định rõ phạm vi áp dụng, điều kiện chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi và hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi có YTNN.
- Hoàn thiện các quy phạm xung đột pháp luật: Xây dựng hệ thuộc luật rõ ràng để xác định luật áp dụng cho điều kiện nuôi con nuôi và hệ quả quan hệ nuôi con nuôi giữa Nước gốc và Nước nhận.
- Tăng cường cơ chế bảo đảm thực hiện: Tách bạch triệt để hoạt động hỗ trợ nhân đạo ra khỏi quy trình giải quyết nuôi con nuôi; gắn kết chính sách nuôi con nuôi với chính sách bảo trợ xã hội và chăm sóc thay thế nhằm thực thi nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước.
- Hoàn thiện thiết chế thực thi: Tăng cường chức năng, quyền hạn của Bộ Tư pháp (Cục Con nuôi); bổ sung chế định tổ chức con nuôi trong nước nhằm xã hội hóa một số khâu nghiệp vụ theo chuẩn mực quốc tế.
- Đào tạo nguồn nhân lực: Xây dựng và chuẩn hóa chức danh cán bộ công tác xã hội chuyên trách trong lĩnh vực nuôi con nuôi để đánh giá tâm lý, hoàn cảnh gia đình trẻ em và cha mẹ nuôi một cách chuyên nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 5 điểm mới và đóng góp khoa học chính:
- Phát hiện sự thiếu gắn kết trong chính sách bảo vệ trẻ em: Chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa biện pháp nuôi con nuôi và các biện pháp chăm sóc thay thế khác trong hệ thống bảo trợ xã hội, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện chính sách ưu tiên nuôi con nuôi trong nước trước khi tìm gia đình thay thế ở nước ngoài.
- Chỉ rõ sự thiếu liên thông giữa hai chế định: Phân tích sự tách rời giữa chế định nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có YTNN trong hệ thống pháp luật hiện hành, gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ toàn diện quyền lợi của trẻ em.
- Luận giải mối quan hệ phụ thuộc giữa pháp luật Nước gốc và Nước nhận: Phân tích cơ chế xung đột pháp luật và yêu cầu công nhận quyết định nuôi con nuôi giữa hai hệ thống pháp luật, khẳng định tính tất yếu của việc bổ sung quy định về hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi có YTNN.
- Tiếp cận quyền nhận con nuôi theo xu hướng nhân quyền quốc tế: Đề cập đến quyền nhận con nuôi của các đối tượng theo chuẩn mực tôn trọng quyền con người và quyền dân sự trong xu thế phát triển chung của thế giới.
- Đề xuất xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa thiết chế con nuôi: Đề xuất bổ sung chế định tổ chức con nuôi trong nước và xây dựng chức danh cán bộ công tác xã hội chuyên sâu trong lĩnh vực nuôi con nuôi nhằm nâng cao tính minh bạch, chuyên nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Một số văn bản quy phạm pháp luật được khảo cứu trong quá trình nghiên cứu đã hết hiệu lực thi hành hoặc được thay thế (như BLDS 2005, Luật HN&GĐ 2000, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004).
- Nguồn tài liệu chuyên sâu quốc tế chủ yếu bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, việc tiếp cận các vụ việc thực tế điển hình tại các Tòa án nước ngoài còn gặp rào cản nhất định về dữ liệu lưu trữ.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Nghiên cứu sâu cơ chế công nhận và thi hành phán quyết chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi giữa Việt Nam và các quốc gia thành viên CULH 1993 không có cùng hệ thống pháp luật (Civil Law và Common Law).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Bộ Tư pháp, Ban soạn thảo dự án sửa đổi Luật Nuôi con nuôi và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc nội luật hóa CULH 1993 và hoàn thiện cơ chế quản lý con nuôi có YTNN.
- Cơ quan tư pháp và hành chính: Hỗ trợ cán bộ làm công tác tư pháp, hộ tịch, cơ sở nuôi dưỡng và các tổ chức xã hội nắm vững quy trình xác minh, giải quyết việc nuôi con nuôi bảo đảm nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn Tư pháp quốc tế, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Trẻ em tại các trường đại học khối ngành luật và khoa học xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước La Hay 1993 về nuôi con nuôi quốc tế từ thời điểm nào và thay đổi bản chất hợp tác ra sao?
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của CULH 1993 từ ngày 01/02/2012. Việc gia nhập này đánh dấu bước chuyển đổi căn bản trong hoạt động giải quyết con nuôi có YTNN tại Việt Nam: từ cơ chế quan hệ hợp tác song phương chuyển sang quan hệ hợp tác đa phương trên phạm vi toàn cầu.
2. Giai đoạn 2003 - 2015 có bao nhiêu trẻ em Việt Nam được giải quyết cho làm con nuôi ở nước ngoài và chiếm tỷ lệ như thế nào ở khu vực Châu Á?
Từ năm 2003 đến năm 2015, có khoảng hơn 12.000 trẻ em Việt Nam được giải quyết cho làm con nuôi ở nước ngoài (chủ yếu tại các nước phát triển như Pháp, Mỹ, Canada, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Italy, Tây Ban Nha). Trong giai đoạn 2003 - 2013, số liệu nuôi con nuôi quốc tế của Việt Nam chiếm gần 8% tổng số trẻ em làm con nuôi nước ngoài của các nước Châu Á (gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan và Việt Nam).
3. Bất cập lớn nhất trong quy định về cho nhận con nuôi đích danh theo Điều 28 Luật Nuôi con nuôi 2010 được luận án chỉ ra là gì?
Luận án chỉ ra tình trạng lẩn tránh quy trình giới thiệu con nuôi thông thường thông qua việc lạm dụng quy định nhận con nuôi đích danh đối với trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo. Đồng thời, hoạt động cho nhận con nuôi vẫn còn bị gắn kết với các khoản hỗ trợ tài chính, nhân đạo của người nhận con nuôi hoặc tổ chức con nuôi nước ngoài, đi ngược lại nguyên tắc bắt buộc chung (jus cogens) của CULH 1993.
4. Luận án đề xuất giải pháp thiết chế và nhân lực mới nào để hoàn thiện quy trình giải quyết nuôi con nuôi tại Việt Nam?
Tác giả đề xuất hai giải pháp thiết chế trọng tâm: một là bổ sung chế định "tổ chức con nuôi trong nước" được cấp phép để thực hiện xã hội hóa một số nhiệm vụ trong thủ tục nuôi con nuôi; hai là xây dựng và đào tạo chức danh chuyên trách "cán bộ công tác xã hội trong lĩnh vực nuôi con nuôi" nhằm đánh giá độc lập, chuyên nghiệp hoàn cảnh trẻ em và gia đình nhận nuôi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Phạm Thị Kim Anh là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam dưới góc độ tư pháp quốc tế và các chuẩn mực của Công ước La Hay 1993. Tác giả đã làm rõ các cơ sở lý luận, chỉ ra những bất cập thực định của hệ thống pháp luật hiện hành và đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ từ nguồn luật, quy phạm xung đột, cơ chế tài chính đến thiết chế và nhân lực. Các kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ trực tiếp cho quá trình sửa đổi Luật Nuôi con nuôi và nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo vệ quyền trẻ em.