CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI. NHAN TRE EM VIỆT NAM LAM CON NUÔI 1,1. Khái quát về van đề người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam Tâm con nuôi 111. Khái niệm nuôi con nuôi "Nuôi con nuôi là hiện tượng đã xuất hiện từ rất lâu đời trên thể giới và déu được pháp luật của các quốc gia trên thể giới điều chỉnh.
Ban đâu, nuôi con nuôi chỉ là một hiện tượng xã hội nhằm dap ứng các nhu cầu của con người, thể hiện mỗi quan hệ gắn bó giữa con người với nhau trên cơ sỡ những, lợi ich chung. Dan dẫn, mỗi quan hệ zã hôi này được thể chế hóa thảnh quan. hệ pháp luật. Bồ luật Hammurabi (Codex Hammurabi) ~ văn bản luật cỗ nhất con được bao tôn tốt, là văn kiện pháp lý đầu tiến chửa đựng những quy định vẻ nuôi con nuôi, đặc biệt là đối tượng tré em bi bô rơi.
Theo đó, Bộ luật nay khẳng định một người có thể nudi một đứa trẻ bị ba rơi, sau khi người đó đã thực hiền các biện pháp dé tim cha me dé của nó, nếu tim thay thi phải trả đứa trẻ cho ho!. Bộ luật dan sự Napoleon 1804 — Bộ luật đánh dau nên lập pháp hiên đại cũng đã luật hóa việc nuôi con nuôi, tuy nhiến, quan điểm của bộ luật nảy cũng có những điểm khác biệt so với giai đoạn trước đó. Theo đó, việc nuôi con nuôi chỉ cho phép khi con nuối là người đã trưởng thành va đã được chăm sóc trong gia đình cha me nuôi 6 năm, người nudi phải từ 50 tudi trở lên và không có con nối đối. Việc nuôi con nuôi chỉ được thực hiện trong trường hợp cha mẹ nuôi không có người thừa kể, con nuôi được giữ nguyên tất cả các ‘Mic 106 cin BS Hema đi gy dink ` hước Ldn ông có thd mỗi nốt đín tổ BEDS od tL ‘mc sự ấ ca nó nâu tần thay tình mi đn bš ho ha” 10 quyén của chúng trong gia đính gốc, chi được quyền thừa kế tai sản vả mang tên của người nuôi.
* Khái niêm “nuôi con môi "Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhân. nuôi con nuôi và người được nhân làm con nuôi, bảo đăm cho người được nhận lâm con nuôi được trồng nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phủ hop với đạo đức x hội "Nuôi con nuôi được hiểu theo hai góc đô: sự kiên pháp ly và quan hệ hội. Dưới góc độ là một quan hệ sã hội, EA Weinstein đã từng định ngiĩa là “Một cá nhân thuộc về một gia đình hoặc một nhóm mang tỉnh chất gia đinh: do sinh ra tiếp nhấn những liên hệ mới mang tính chắt gia đình và những liên "hệ mới nay được xã hội coi nïnt ngang bằng với những mối liên hệ ruột thịt và thay thé một phần hoặc toàn bộ những mét liên hệ đö”2. Theo định nghĩa trên, việc nuối con nuối được hiểu là một cá nhân được tiếp nhận vào một gia đính va tạo ra những liên hé mới mang tính chất gia đỉnh, có thé thay thé mốt phân hoặc toàn bô mồi quan hệ ruột thịt và quan hệ mang tính chất gia đình nay được sã hội thừa nhận và có giá ti như môi quan hệ ruột thit.
Dưới góc độ là sư kiên pháp lý, việc mudi con nuôi là tập hop các sử kiên pháp lí được sự đồng ý của cơ quan nha nước có thẩm quyên. Nếu thiểu đi một trong các sự kiên câu thành tập hợp đó thi không làm phát sinh quan hệ pháp luật cha me vả con giữa người nhên nuôi và đứa tré được nhân nuối. Các sự kiên đó la Thứ nhất. sự thé hiện ý chi của người nhận nuôi con nuôi: Người nhận nuôi con nuôi phải thể hiện ¥ chí của mình về việc mong muôn nhân nuôi đứa ".
New Yak 1968, 97) wid. ‘uemguile NgJện Hương Lai D007) Coo hana tax tan cin dự Gnh nhập j và maa muaôi Vệ Na, aii Tên 4 bún học Duc but Hội 41718 " trế va thiết lập quan hệ cha me và con với đứa trẻ đó. Tỉnh chất pháp lý thể hiện ở việc người nuồn nhận con nuôi có đơn xin nhận nuôi con nuôi gửi cơ quan có trách nhiệm giãi quyết việc nuôi con nuôi, Thú hai, sự thé hiệný chi của cha me dé hoặc người giám hồ của trễ em được cho làm con nuôi: Ý chi của những người nay trong việc cho tré em lâm con nuôi phải minh bạch, xuất phát từ sư tư nguyên thất sự của bản thân ho sm không có bat cử sự tác đồng, thúc ép, du dỗ, hứa hen hoặc một áp lực nào. Nội dung của ý chí đó ta đồng ý cho con minh Jam con nuôi của người khác Sự đẳng ý chí do có thé thé hiện bat cir lúc nào nhưng nó chỉ có ý nghĩa sau.
khi đứa trễ được sinh ra mà còn sống, ‘Tint ba, sự thé hiện ý chí của bản thân người con nuôi, đặc biệt đối với nhóm tré từ 9 tuổi trở lên, đã có đây đủ nhận thức, thi việc giải quyết nuôi con nuôi nhất định phải có ý kiến của người được nhân làm con nuôi. Thứ te ¥ chi của Nhà nước được thể hiện qua việc công nhân (hay không công nhân) việc nuối con nuôi, thông qua thủ tục đăng kí việc nuôi con nuôi (hay từ chỗi việc đăng kí nuôi con nuôi). Việc công nhận của cơ quan nhả nước có thẩm quyển lâm phat sinh hiệu lực pháp lí của việc nuôi con nuôi. * Phân biệt nỗi quan lệ giữa cha me với con để và cha mẹ nuôi với cơn nuôi 'Vẻ cơ ban, trong quan hề pháp luật giữa cha me dé với con dé va cha me nuôi với con nuôi có những điểm tương đồng nhau vé quyên, nghĩa vụ vả trảch giữa cha mẹ và con.
Theo đó, dù là cha, mẹ để hay cha, mẹ nuôi, 1a cơn. đê hay con nuôi thì cha, me, con đều có các quyển va nghĩa vụ sau: - Cha me có quyển và nghĩa vu thương yếu, trồng nom, nuôi dưỡng, chăm lo việc học tập, giáo duc con, đại diện cho con chưa thành niên để bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của con, không được ngược đãi, hành ha, xúc. pham con, không được lạm dụng sức lao đồng của con chưa thảnh nién, không được xi giục, ép buộc con lm những việc trấi pháp luật, trải đạo đức xã hội, cha me là người dai dién theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mắt năng lực hanh vi dén sự, cha, me, con có quyền thừa ké di sản của nhau va 6 hang thửa ké thứ nhất ~ Cơn có bổn phận yêu quý, kính trong, biết ơn, hiểu thao với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bao đúng đắn của cha me, phải chăm sóc, phụng dưỡng cha me, không được ngược dai, hành hạ, sic phạm cha me Tuy nhiên, quan hệ pháp luất giữa cha me dé với con dé va cha me nuôi với con nuôi cũng có nhiều điểm khác nhau mà nổi bật nhất lả khác nhau về sự hình thành vả chấm đứt mối quan hệ cha me, con. Cha, me dé với con dé được hình than từ quan hệ huyết thống, con do cha me trực tiếp sinh ra ~ đương nhiền được nha nước công nhận 1a cha, me, con.
Trong trường hop cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ va phải được Tòa án xác đính, người được người khác nhận là cha, me cũng có quyền yêu câu Téa án xác đính người đó không phải 1a con minh. Pháp luật không công nhận việc cham đứt quan hệ cha, me dé với con dé vi đi ngược truyền thông, phong tục tập quán, vi phạm văn hóa, trái dao đức xã hội. Việc không thừa nhân một người là cha dé, me dé, con dé phải do Toa án sác định (đưa trên chứng cứ khoa học như xét nghiệm, giám định gen DNA.) Cha, mẹ nuôi với con nuôi được thiết lập từ quan hệ nuôi dưỡng, chăm. sóc vả phải do cơ quan nhả nước có thẩm quyển ra quyết định công nhận.
'Việc nuôi con nuôi có thé bị chấm đứt khi có một trong các căn cứ theo quy. định của pháp luật va do Tòa án ra quyết định. Quyển, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm ditt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Toa an có hiệu lực pháp luật 1 1. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nrớc ngoài.
Mặc dù vấn dé này đã xuất hiện từ rất lâu trên thé giới và được ghỉ nhận. trong các văn ban pháp luật đầu tiên cổ xưa nhất trên thé giới nhưng nuôi con nuôi chi thực sự trở thành méi quan tâm của công đồng thé giới trong vòng hơn nữa thé kỹ qua, kể tử chiến tranh thé giới thử hai kết thúc, khi ma lan sỏng nuôi con nuôi có sự phát triển mạnh mé ở các nước phát triển. Theo đó, vấn để nuôi con nuôi không còn là vấn dé trong nước ma đã được nhiều nước. trên thé giới quan tâm Đặc biết, trong bồi cảnh hội nhập hiện nay, nuôi con nuôi có yêu tổ nước ngoài thực sự đã trở thành van để nhân đạo mang tính toàn.
cầu và đã được thể chế hóa trong pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước. * Khái niệm “môi con môi có yéu tổ nước ngoài ‘Theo Công tước Lahay năm 1993, “audi con nuôi quốc tÉ”" được hiểu là việc nuôi con nuôi được thực hiện giữa một hoäc hai người lả vợ ching thường trủ tại nước ngodi xin nhận trẻ em thường trú ở nước khác lâm con nuôi, có sự đi chuyển tré em từ nước nảy sang nước khác. G một góc đô nhất định, nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài cũng được hiểu tương tự như nuôi con nuôi quốc té. Tuy nhiên nuôi con nuôi có yêu tổ rước ngoài cin phải đáp ứng một trong ba yêu tô cầu thành, đó là ~ VỀ mặt chủ thể: phải có ít nhất một bên lả người nước ngoải, ~ Về mặt khách thé: tài sản liên quan đến quan hệ nuôi con nudi ở nước ngoài, ~ Về sự kiện pháp lý: Căn cứ làm phát sinh, chấm đứt quan hệ nuôi con nuôi 14 ð nước ngoài va áp dụng pháp luật nước mà người nước ngoài thường trú.
Hiện nay, pháp luật vé nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài trên thé gói được chia thành hai nhóm chủ yếu: (¡) nhóm các nước thường nhận tré em. rước ngoài làm con nuôi (Mỹ, Pháp, Úc, Anh,.); (i) nhóm các nước thường, M cho trẻ em lam con nuôi người nước ngoài (An Độ, Việt Nam,.), nhóm nay ‘bao gồm các nước đang phát triển hoặt kém phát triển nhưng có dân số đông, trẻ em có hoàn cảnh đặc bit nhiều.