CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE GIÁM HO DOI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. Khái quát chung về người chưa thành niên và giám hộ đối với người chưa thành niên 1. Người chưa thành niên Mỗi cá nhân là con người của tự nhiên đều cần phải cần có thời gian để phát triển trọn ven thé chất và nhận thức. Tùy thuộc vào mỗi giai đoạn khác nhau của sự phát triển thể chất, nhận thức của con người thì các nhà làm luật sẽ có các quy định giới hạn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý phù hợp với mức độ nhận thức của cá nhân đó.
Khi nhắc đến những cá nhân chưa có sự phát triển toàn điện về khả năng nhận thức, làm chủ hành vi ta có thể nhận biết ngay đó là người chưa thành niên. Người chưa thành niên không phải là một thuật ngữ mới, nó được sử dụng phổ biến đặc biệt trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể có các thuật ngữ khác nhau định danh cho từng nhóm người này, bên cạnh thuật ngữ “Người chưa thành niên” thì một số thuật ngữ khác cũng được sử dụng như “VỊ thành niên”, “Thanh thiếu niên”, “Trẻ em”. Các quốc gia cũng có sự quy định khác nhau về độ tuổi của người chưa thành niên và độ tuổi đó tùy thuộc vào sự phát triển tâm sinh lý và nhận thức của từng khu vực.
Theo Các quy tắc Bắc Kinh được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985, “Người chưa thành niên là trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội theo một phương thức khác người lon” (14, tr. Các quy tắc Bắc Kinh cũng nhắn mạnh rằng giới hạn độ tuổi được coi là chưa thành niên phụ thuộc vào quy định của từng hệ thống pháp luật. Điều này mở ra cho mỗi quốc gia được quy định giới hạn tuổi khác nhau đối với người chưa thành niên đê phù hợp với hoàn cảnh và điêu kiện thực tê của quôc gia mình. Ở Trung Quốc, Bộ luật Dân sự quy định “.7;hé nhân dưới 18 tuổi là người chưa thành niên” [10, Điều 17].
Tại Singapore, Luật Trẻ em và người chưa thành niên (Children and Young Person Act, Singapore 2011, Part 1) ghi nhận độ tuổi tương ứng với các nhóm người như sau: Trẻ em (Child) là người dưới 14 tuôi; Người chưa thành niên (juvenile) là người từ 10 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi; Người trẻ (Young person) là người từ 14 tuổi trở lên nhưng dưới 16 tuổi [41]. Nếu đối sánh với pháp luật Canada thì người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi nhưng ngay chính trong một số bang của quốc gia này lại ghi nhận người chưa thành niên là người dưới 19 tuổi [42]. Quy tắc tối thiêu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua năm 1990 nêu: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tudi. Tương tự, tại châu Âu định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, ngoại trừ đối với Scotland, trẻ em là người dưới 16 tuổi [16].
Ví dụ như Điều 388, Bộ luật Dân sự Pháp quy định “Người nam hoặc nữ chưa đủ mười tắm tuổi là người chưa thành niên ”. Tại Việt Nam, “trẻ em” và “người chưa thành niên” là hai thuật ngữ rất quen thuộc và được sử dụng từ rất lâu trong hệ thống pháp luật của nước ta. “Trẻ em” thường được dùng trong các văn bản pháp luật quy định những vấn đề chính sách chăm sóc và bảo vệ mà trẻ em là những đối tượng dễ yếu thế, dễ bị tổn thương. Ví dụ trong Luật Trẻ em 2016, tại Điều | nha làm luật đưa ra khái niệm trẻ em là người dưới 16 tuổi và không có quy định về người chưa thành niên.
Khái niệm người chưa thành niên được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cụ thể: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi ”. Người chưa thành niên là một thuật ngữ pháp lý thường được các nhà lập pháp và quản lý xã hội sử dụng khi xác định những giới hạn về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của cá nhân trong những mối quan hệ pháp luật [27. Giao dich dân sự của người chưa du sau tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện; 3. Người từ du sau tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật dong y, trừ giao dich dân sự phục vụ nhu câu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi; 4.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tam tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bat động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật dong ý” [13, Điều 21, Khoản 2, 3, 4]. Tóm lại, thuật ngữ người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thé chất và nhận thức của con người và được cụ thé hóa bằng giới hạn độ tuôi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo ThS tâm lý Nguyễn Thị Tâm thì bắt nguồn từ luận điểm của lý thuyết về tâm lý học phát triển, các nhà tâm lý cho răng mặt bằng chung con người đạt được sự phát triển toàn diện về thé chất và nhận thức vào độ tuôi từ đủ 18 trở lên [50]. Trong pháp luật Việt Nam và nhiều quốc gia khác cũng như pháp luật quốc tế thường lấy mốc 18 tuổi làm mốc phân định chia nhóm người thành niên và người chưa thành niên.
Điều đó cho thấy, các quốc gia có sự tương đồng rất lớn khi nhận diện sự phát triển toàn diện về thê chất, tinh thần, nhận thức cá nhân ở một ngưỡng tuổi nhất định. Giám hộ đối với người chưa thành niên Dé có hình thái và khuôn mẫu như pháp luật hiện đại thì giám hộ nói chung và giám hộ đối với người chưa thành niên nói riêng đã trải qua lịch sử phát triển lâu dài với nhiều hình thái khác nhau và mục đích của nó đôi khi không phải để chăm sóc, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người được giám hộ ma là thê hiện vi thê xã hội. 10 Vẫn đề giám hộ vào cuối thời đại đồ đồng ở Syria hết sức mờ nhạt. Khi người cha chết thì người vợ góa đương nhiên được tiếp quản quyền giám hộ của con chung hoặc con riêng của mình.
Chỉ khi xuất hiện sự tranh chấp hoặc không có người vợ goá nào có thể đảm nhiệm thì tộc trưởng mới chỉ định người giám hộ cho người con chưa thành niên. Thường việc giám hộ này sẽ thuộc về anh chị lớn tuổi hoặc chú bác của đứa trẻ. Như vậy, ngay từ thời kỳ đồ đồng tại Syria đã đặt ra thực tế thi hành việc bảo vệ quyền lợi cho trẻ chưa thành niên. Hơn nữa, thủ tục để chỉ định người bảo vệ cho người chưa thành niên có thể theo cách đương nhiên được xác định theo luật tục hoặc theo chỉ định của người có quyền ở đây là tộc trưởng [37, tr.
Hay từ thời La Mã cô đại giám hộ đã là một chế định quan trọng và được quy định tại phần năng lực hành vi trong luật tư pháp La Mã. Trong Luật La Mã đã có những quy định về giám hộ cho người chưa thành niên, trong đó, Luật La Mã quy định: Trẻ em dưới 7 tuôi (Infantes) không có năng lực hành vi không được tham gia và thực hiện các giao dịch dân sự, trừ những giao dịch phục vụ cho nhu cầu thiết yếu và phù hợp với lứa tuổi. Luật quy định trẻ em trong độ tuổi này buộc phải đặt dưới sự giám hộ của người trưởng thành (Tutor). Đối với những người trong độ tuổi 07 đến 14 tuổi đối với nam giới, đến 12 tuổi đối với nữ giới là người chưa trưởng thành (Impuberes), chỉ được tham gia những giao dịch làm tăng giá trị tài sản của bản thân, còn những giao dịch không làm tăng giá trị tài sản của họ đều vô hiệu.
Khi thực hiện một giao dịch mà phát sinh một nghĩa vụ hay chấm dứt một quyền phải được sự đồng ý của gia chủ hoặc người đỡ đầu vào thời điểm thực hiện giao dịch đó [32]. Như vậy, trong thời kỳ này người không có năng lực hành vi (tre em) và người có năng lực hành vi một phần phải đặt dưới sự giám hộ dé được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. 11 Còn trong thời kỳ cô đại tại Ai Cập, thiếu niên cần người lớn, nô lệ cần chủ, phụ nữ cũng cần có người đại diện. Cụ thể: phụ nữ tuy rằng có thê tham gia với tư cách chủ thể độc lập trong thực hiện các hành vi pháp lý như nộp thuế, tham gia giao dịch mua bán tài sản, kế thừa tài sản của cha mẹ nhưng thực tế thường xuyên có sự xuất hiện của “nam ĐIỚI” hỗ trợ, bảo trợ cho giao dịch.
Đối với trẻ em, có những ghi nhận về việc cử ra người “chăm sóc trẻ” nhưng không có quy định chỉ tiết về phạm vi quyền của người này [38, tr. Thực tế, quan niệm về giám hộ tùy thuộc vào văn hóa, chính tri, kinh tế - xã hội của từng quốc gia và từng giai đoạn cụ thê của lịch sử, giám hộ là sản phẩm kết hợp giữa chính trị, văn hóa và pháp lý. Theo Tiến sĩ Jarmal. Nasir CVO “Quyển giám hộ được hiểu giám hộ về con người hoặc tài sản.
Người giám hộ của một người có thé đồng thời là giám hộ tài sản. Diéu này được xem là nghĩa vụ của một người trên cơ sở họ hàng, theo đi chúc hoặc theo quyết định của Tòa án. Người được giám hộ là người chưa có năng lực hành vi dân sự đây đủ hoặc là người khiếm khuyết nên không có năng lực hành vi dân sự đây đủ. Hay tại các nước theo đạo Hồi, đưới góc độ pháp lý, giám hộ được hiểu là người có nghĩa vụ chăm sóc, quản lý một người khác hoặc tài sản của người khác [45].
Trong pháp luật hiện đại, khi quyền con người được ghi nhận trong công ước quốc tế và được nhiều quốc gia thành viên nội luật hóa bảo đảm thực thi thì các quốc gia đều có xu hướng nỗ lực thúc đây bảo vệ quyền con người, đặc biệt với nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội: phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người ti nạn. Đối với người chưa thành niên, sự hiện diện, vai trò của cha, mẹ với tư cách người bảo vệ quyên, lợi ích của con mình được nhìn nhận như một sự hiển nhiên.