Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật dân sự và hôn nhân gia đình, quan hệ giữa cha mẹ và con cái là một mắt xích nền tảng bên cạnh quan hệ giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, nhận thức xã hội cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian dài thường có xu hướng tập trung vào quyền và nghĩa vụ của người lớn, xem con cái là đối tượng phụ thuộc hoặc là tài sản của cha mẹ. Con chưa thành niên là nhóm chủ thể chưa phát triển toàn diện về thể chất, tâm lý và năng lực hành vi dân sự, dẫn đến nguy cơ cao bị xâm hại, bóc lột sức lao động, bỏ rơi hoặc bị vi phạm quyền lợi khi gia đình xảy ra xung đột, ly hôn. Vì vậy, việc làm rõ vị thế pháp lý của con chưa thành niên trong gia đình là yêu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hộ thế hệ trẻ.
Trước khi tác giả Đào Lê Phương Hoa thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học "Chế độ pháp lý đối với con chưa thành niên trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam" (năm 2020 tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Công Thịnh), vấn đề này đã được đề cập trong một số tài liệu học thuật:
- Giáo trình và sách chuyên khảo: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Đại học Luật Hà Nội, TS. Nguyễn Văn Cừ chủ biên, NXB Công an nhân dân, 2012); Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức, 2018); cuốn Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình của LS. Nguyễn Thị Chi (NXB Lao động).
- Luận văn, luận án chuyên ngành: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Quyền (2014) về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con; Luận án tiến sĩ của Trần Tuyết Ánh (2015) về hoàn thiện pháp luật gia đình; Luận văn thạc sĩ của Lê Thu Trang (2012) về bảo vệ quyền lợi của vợ và con khi ly hôn; Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thu Hương (2011) về hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây phần lớn tiếp cận địa vị của người con dưới góc độ quyền con người hoặc quyền trẻ em nói chung, hoặc đặt trong mối quan hệ phái sinh từ quyền của cha mẹ, chứ chưa khái quát toàn diện và hệ thống về quyền và nghĩa vụ độc lập của đối tượng con chưa thành niên.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận căn bản về quy định pháp luật Việt Nam đối với con chưa thành niên trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, từ đó đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện nền tảng pháp lý.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo hai bước:
- Hệ thống hóa toàn bộ các quy phạm pháp luật liên quan đến địa vị pháp lý của con chưa thành niên trong hôn nhân và gia đình tại Việt Nam, làm sáng tỏ tính logic và mối liên kết giữa các quy phạm pháp luật.
- Phân tích, phân loại chuyên sâu các quy phạm pháp luật để xác định các vấn đề mấu chốt, chỉ ra những điểm tích cực cùng các vướng mắc tồn tại trong thực tiễn áp dụng.
Đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp luật điều chỉnh địa vị pháp lý của con chưa thành niên trong pháp luật về hôn nhân và gia đình cùng các vấn đề lý luận liên quan. Phạm vi nghiên cứu bao quát tổng thể các chế định trong pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành (trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) cùng các văn bản quy phạm pháp luật trong lịch sử lập pháp Việt Nam (năm 1959, 1986, 2000).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Công trình được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng gia đình và bảo vệ trẻ em.
Khung pháp lý tham chiếu trong khóa luận gồm hệ thống văn bản pháp luật trong nước và điều ước quốc tế:
- Các đạo luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986, năm 2000 và năm 2014.
- Các đạo luật liên ngành liên quan: Bộ luật Dân sự năm 2015 (tiêu biểu là Điều 21 về người chưa thành niên, Điều 357 về trách nhiệm chậm trả tiền); Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 1 về độ tuổi trẻ em); Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (Điều 482 về các bản án thi hành ngay); Bộ luật Hình sự năm 2015 (các điều khoản từ Điều 123 đến Điều 156 về tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự); Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Văn kiện pháp lý quốc tế: Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
Về mặt khái niệm, tác giả xác định địa vị pháp lý của con chưa thành niên là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho người con ở độ tuổi dưới 18 trong mối quan hệ với cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: mổ xẻ các điều luật thực định về quyền nhân thân, quyền tài sản và nghĩa vụ của con chưa thành niên, sau đó khái quát thành các nhóm quyền và nghĩa vụ mang tính hệ thống.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu: thực hiện so sánh lịch sử qua 4 thời kỳ luật định tại Việt Nam (1959, 1986, 2000, 2014) và so sánh pháp luật quốc tế về độ tuổi thành niên (như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Ấn Độ, Brazil và tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO).
- Phương pháp thống kê và kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn: đối chiếu quy định pháp luật với các tình huống phát sinh trong đời sống xã hội như con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, con ngoài giá thú và tranh chấp cấp dưỡng.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là các quy phạm pháp luật thực định, tài liệu hồi cứu lập pháp và các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I – Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của con chưa thành niên trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Chương này tập trung xác lập khái niệm, độ tuổi và hệ thống hóa quyền, nghĩa vụ của con chưa thành niên. Tác giả phân loại các trường hợp xác định con theo quy định pháp luật:
- Con chung của vợ chồng do người vợ trực tiếp sinh ra: căn cứ Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, gồm con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, con sinh ra trong 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân, con sinh trước khi đăng ký kết hôn được cha mẹ thừa nhận hoặc con được Tòa án xác định có chứng cứ.
- Con nuôi: xác lập quan hệ làm cha mẹ hợp pháp, chuyển giao quyền và nghĩa vụ từ cha mẹ đẻ sang cha mẹ nuôi; công nhận quyền nhận con nuôi của người độc thân.
- Con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: gồm phương pháp thụ tinh nhân tạo (Intrauterine insemination – IUI) và thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilization – IVF). Pháp luật không làm phát sinh quan hệ cha mẹ - con cái giữa người cho noãn, tinh trùng, phôi với đứa trẻ sinh ra. Đối với mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đứa trẻ sinh ra là con chung của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm chào đời.
- Con ngoài giá thú: con sinh ra khi cha mẹ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp; được pháp luật bảo đảm bình đẳng hoàn toàn và thực hiện đăng ký xác định cha mẹ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi con cư trú.
- Con riêng của vợ hoặc chồng cùng chung sống: phát sinh quyền và nghĩa vụ hỗ trợ cơ bản với cha dượng, mẹ kế.
Về tiêu chuẩn độ tuổi, tác giả phân tích sự khác biệt giữa các hệ thống văn bản: Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi; Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi; Điều 1 Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 lấy mốc dưới 18 tuổi. So sánh quốc tế cho thấy Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc quy định tuổi thành niên là 20 tuổi; Philippines, Ấn Độ, Brazil quy định từ đủ 18 tuổi; Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác định độ tuổi vị thành niên từ 10 đến 19 tuổi.
Tác giả phân chia hệ thống quyền của con chưa thành niên thành ba nhóm:
- Nhóm quyền lợi cơ bản trong gia đình: quyền được xác định cha mẹ (Điều 90; con chưa thành niên nhận cha/mẹ phải có sự đồng ý của người còn lại); quyền được sống chung với cha mẹ; quyền được yêu thương, tôn trọng, phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức; quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được giáo dục; quyền được đối xử bình đẳng không phân biệt giới tính hay tình trạng hôn nhân của cha mẹ (khoản 2 và khoản 3 Điều 68).
- Nhóm quyền tài sản và pháp lý: quyền có tài sản riêng (Điều 75; con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được tự quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý; con dưới 15 tuổi do cha mẹ quản lý; con từ đủ 9 tuổi phải được xem xét nguyện vọng khi cha mẹ định đoạt tài sản riêng); quyền được cha mẹ bồi thường thiệt hại thay (Điều 74); quyền được đại diện theo pháp luật; quyền được nhận cấp dưỡng (khoản 24 Điều 3; duy trì cấp dưỡng kể cả khi cha mẹ không sống chung hoặc vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng).
- Nhóm quyền trẻ em và quyền con người: quyền bày tỏ ý kiến, nguyện vọng (bắt buộc xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi khi cha mẹ ly hôn; từ đủ 9 tuổi khi cha mẹ định đoạt tài sản); quyền được bảo hộ khỏi sự xâm hại, bóc lột sức lao động, không bị ép buộc làm việc trái pháp luật và đạo đức.
Về nghĩa vụ, con chưa thành niên có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo và chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ (khoản 2 Điều 71); giữ gìn danh dự, truyền thống gia đình; tham gia công việc gia đình vừa sức. Con từ đủ 15 tuổi có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung và đóng góp thu nhập vào nhu cầu thiết yếu của gia đình. Khóa luận khẳng định: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không áp đặt nghĩa vụ cấp dưỡng của con chưa thành niên đối với cha mẹ mà chỉ áp dụng nghĩa vụ này đối với con đã thành niên.
Chương II – Quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về địa vị pháp lý của con chưa thành niên
Chương hai khảo sát địa vị pháp lý của con chưa thành niên qua các giai đoạn hôn nhân, cơ chế hạn chế quyền của cha mẹ và tiến trình lịch sử lập pháp.
Địa vị pháp lý theo các thời kỳ của hôn nhân:
- Giai đoạn trước hôn nhân: Điều 14 và Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn không làm phát sinh quan hệ vợ chồng, nhưng quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái vẫn được giải quyết tương tự như các cặp vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp.
- Giai đoạn trong thời kỳ hôn nhân: con được hưởng đầy đủ các quyền chăm sóc, giáo dục và đại diện. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ vẫn phát sinh ngay trong hôn nhân nếu cha mẹ không sống chung với con hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng.
- Giai đoạn chấm dứt hôn nhân (ly hôn): áp dụng Điều 81 và Điều 82; con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho người mẹ nuôi dưỡng (trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc người mẹ không đủ điều kiện); con từ đủ 7 tuổi trở lên bắt buộc phải xem xét nguyện vọng khi Tòa án phán quyết giao con cho cha hoặc mẹ; bên không trực tiếp nuôi có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về chế định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên (Điều 85): Tòa án áp dụng biện pháp hạn chế quyền từ 01 năm đến 05 năm đối với cha, mẹ thuộc 4 trường hợp:
- Bị kết án với lỗi cố ý về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con (quy định tại các điều từ 123 đến 156 Bộ luật Hình sự năm 2015) hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Phá tán tài sản của con.
- Có lối sống đồi trụy.
- Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Khi bị hạn chế quyền, cha mẹ mất quyền trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục, đại diện và quản lý tài sản của con, nhưng vẫn bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Sự phát triển của chế định này qua 4 đạo luật được tổng hợp trong bảng đối chiếu sau:
| Tiêu chí phân tích |
Luật HNGĐ năm 1959 |
Luật HNGĐ năm 1986 |
Luật HNGĐ năm 2000 |
Luật HNGĐ năm 2014 |
| Quy mô văn bản |
35 điều |
57 điều |
110 điều |
133 điều |
| Cấu trúc quy định quyền và nghĩa vụ |
Gom chung nghĩa vụ cha mẹ và con trong Điều 17; chưa có thuật ngữ "quyền" song hành |
Tách riêng điều khoản về nghĩa vụ của cha mẹ và con; bước đầu ghi nhận quyền có tài sản riêng |
Bổ sung thuật ngữ "quyền" đi kèm "nghĩa vụ"; đưa nguyên tắc không phân biệt đối xử vào nguyên tắc chung |
Bổ sung Điều 68 bảo vệ quyền, nghĩa vụ cha mẹ và con; quy định quyền được sống chung với cha mẹ |
| Bảo hộ con ngoài hôn nhân |
Điều 19 ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ; các điều khoản công nhận con ngoài giá thú |
Bảo đảm bình đẳng quyền giữa các diện con |
Nguyên tắc thứ 5 khẳng định không phân biệt đối xử giữa các con |
Điều 14, Điều 15 bảo vệ toàn diện quyền của con khi cha mẹ sống chung không đăng ký kết hôn |
| Mốc tuổi xem xét nguyện vọng khi ly hôn |
Chưa quy định |
Chưa quy định |
Từ đủ 09 tuổi trở lên |
Từ đủ 07 tuổi trở lên |
| Mốc tuổi tham gia lao động, đóng góp gia đình |
Chưa quy định |
Từ đủ 16 tuổi trở lên |
Từ đủ 15 tuổi trở lên |
Từ đủ 15 tuổi trở lên |
| Thuật ngữ và chế định cấp dưỡng |
Dùng thuật ngữ "đóng góp phí tổn nuôi nấng, giáo dục"; cả hai bên cùng thỏa thuận |
Người không trực tiếp nuôi phải đóng góp phí tổn; có biện pháp khấu trừ thu nhập |
Dùng chính thức thuật ngữ "cấp dưỡng", dành riêng 1 chương; áp dụng khi ly hôn (Điều 56) |
Bỏ cụm từ "khi ly hôn" tại Điều 110; mở rộng cấp dưỡng khi không sống chung hoặc vi phạm nuôi dưỡng |
| Chế định hạn chế quyền của cha mẹ |
Chưa quy định chế định riêng biệt; chỉ có quy định người thay mặt |
Bổ sung quy định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên |
Hoàn thiện căn cứ hạn chế quyền, tước quyền đại diện và quản lý tài sản |
Quy định cụ thể thời hạn từ 01 đến 05 năm; quy định rõ 4 trường hợp áp dụng (Điều 85) |
Chương III – Một số đánh giá, khuyến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của con chưa thành niên trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả đánh giá những điểm tích cực của hệ thống pháp luật hiện hành:
- Đảm bảo tính nhất quán của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ.
- Thiết lập ranh giới hợp lý giữa việc trao quyền bảo hộ tối đa và xác định nghĩa vụ vừa sức, phù hợp với năng lực nhận thức của người con theo từng mốc tuổi.
- Xây dựng chế định hạn chế quyền của cha mẹ làm công cụ pháp lý bảo vệ con trước các hành vi lạm quyền, bạo lực hoặc buông lỏng trách nhiệm.
Bên cạnh đó, văn bản phân tích sâu các vướng mắc, bất cập thực tiễn trong quy định hiện hành:
- Thiếu tiêu chí định lượng về mức cấp dưỡng: Luật quy định mức cấp dưỡng căn cứ vào "khả năng thực tế của người cấp dưỡng" và "nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng". Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có văn bản hướng dẫn chi tiết về nội dung này. Thực tiễn xét xử vẫn phải vận dụng tinh thần của văn bản cũ là Nghị định số 70/2001/NĐ-CP (Điều 16 xác định khả năng thực tế là có thu nhập thường xuyên hoặc còn tài sản sau khi trừ chi phí thiết yếu; nhu cầu thiết yếu dựa trên mức sinh hoạt trung bình tại địa phương gồm ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh). Việc thiếu công thức tính toán hoặc tỷ lệ phần trăm thu nhập cụ thể dẫn đến tình trạng áp dụng tùy nghi tại các Tòa án.
- Thiếu chế tài đối với hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Luật chưa quy định rõ việc bên có nghĩa vụ chậm cấp dưỡng định kỳ bằng tiền có phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả hay không, trong khi bản chất của quan hệ này tương đồng với nghĩa vụ chậm trả tiền theo Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bỏ ngỏ thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng mà không xác định thời điểm bắt đầu phát sinh. Tác giả chỉ ra sự tồn tại của hai luồng quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án; quan điểm thứ hai căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 482 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cho rằng bản án, quyết định về cấp dưỡng có hiệu lực thi hành ngay nên thời điểm cấp dưỡng phải tính từ ngày Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã trích xuất, đối chiếu và hệ thống hóa toàn bộ các quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh con chưa thành niên tại Việt Nam qua các giai đoạn 1959, 1986, 2000 và 2014; tổng hợp và làm rõ 5 diện xác định quan hệ con cái (con chung sinh tự nhiên, con nuôi, con sinh bằng kỹ thuật y học/mang thai hộ nhân đạo, con ngoài giá thú, con riêng sống chung) và các mốc lứa tuổi quan trọng (dưới 36 tháng tuổi, từ đủ 7 tuổi, từ đủ 9 tuổi, từ đủ 15 tuổi, chưa đủ 18 tuổi).
Đóng góp học thuật mà tác giả tự nêu:
- Khái quát hóa địa vị pháp lý của con chưa thành niên thành một chế định pháp lý độc lập trong luật hôn nhân và gia đình, thay vì chỉ tiếp cận tản mạn dưới góc độ quyền trẻ em hoặc quyền con người chung chung.
- Chỉ ra các khoảng trống và điểm mâu thuẫn trong kỹ thuật lập pháp của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đặc biệt là việc thiếu quy định định lượng mức cấp dưỡng, thiếu cơ chế tính lãi khi chậm cấp dưỡng và sự thiếu thống nhất về thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có hạn chế nhất định do phạm vi tiếp cận chủ yếu dựa trên phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và nghiên cứu hồi cứu lập pháp. Công trình chưa tổng hợp số liệu thực tiễn xét xử, số lượng bản án tranh chấp quyền nuôi dưỡng, cấp dưỡng trên diện rộng từ các Tòa án nhân dân, và dừng lại ở mốc thời gian văn bản năm 2020.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được xác định là: khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp đối với các vụ việc hôn nhân gia đình có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con và xác định mức cấp dưỡng; nghiên cứu hoàn thiện cơ chế cưỡng chế thi hành án dân sự đối với các nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình khi tìm kiếm tài liệu nghiên cứu về quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Các nội dung có giá trị tham khảo cụ thể gồm:
- Bảng tổng hợp và các luận điểm phân tích so sánh tiến trình lịch sử qua 4 đạo luật hôn nhân và gia đình (1959, 1986, 2000, 2014) tại Chương II.
- Các luận cứ phân tích vướng mắc pháp lý thực tiễn về chế định cấp dưỡng và thời điểm bắt đầu thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng tại Chương III, hỗ trợ người làm đề tài xây dựng luận cứ hoàn thiện pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận phân loại con chưa thành niên thành những diện quan hệ pháp lý cụ thể nào?
Tác giả phân loại thành 5 diện: con chung do người vợ trực tiếp sinh ra (theo Điều 88); con nuôi hợp pháp; con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (IUI, IVF) và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; con ngoài giá thú; con riêng của vợ hoặc chồng cùng chung sống.
Độ tuổi xem xét nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn thay đổi như thế nào giữa Luật năm 2000 và Luật năm 2014?
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định phải xem xét nguyện vọng của con khi con từ đủ 09 tuổi trở lên. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã hạ mốc tuổi này xuống từ đủ 07 tuổi trở lên.
Con chưa thành niên có phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cha mẹ không?
Không. Khóa luận phân tích quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khẳng định nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cha mẹ chỉ áp dụng cho con đã thành niên. Con chưa thành niên không phải chịu nghĩa vụ cấp dưỡng này.
Cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong thời hạn bao lâu và thuộc những trường hợp nào?
Thời hạn hạn chế quyền từ 01 năm đến 05 năm (Điều 85 Luật năm 2014), áp dụng khi cha mẹ: bị kết án cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dạy; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Tác giả đã chỉ ra những vướng mắc pháp lý cụ thể nào đối với chế định cấp dưỡng cho con chưa thành niên?
Có 3 vướng mắc chính: thiếu văn bản hướng dẫn định lượng tiêu chí "khả năng thực tế" và "nhu cầu thiết yếu" theo Luật năm 2014; chưa quy định trách nhiệm trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bằng tiền; thiếu điều khoản xác định thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng dẫn đến hai quan điểm áp dụng pháp luật trái ngược trong thực tiễn xét xử và thi hành án.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đào Lê Phương Hoa đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực định về chế độ pháp lý đối với con chưa thành niên trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Công trình làm rõ sự chuyển biến tiến bộ qua 4 đạo luật lịch sử (1959, 1986, 2000, 2014), khẳng định nguyên tắc bình đẳng và bảo hộ quyền lợi của trẻ em không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ. Đồng thời, nghiên cứu đã phát hiện chính xác các khoảng trống quy phạm liên quan đến định lượng mức cấp dưỡng, chế tài chậm trả và thời điểm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng trong thực tiễn pháp lý hiện hành.