CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 1. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội. “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”[23,tr.
Câu nói trên khẳng định tầm vóc lớn lao của gia đình tác động vào sự cân bằng, ổn định của xã hội. Những ưu điểm, giá trị tốt đẹp gia đình mang tại Khoản 2 Điều 36 Hiến Pháp 2013 ghi nhận, quy định “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”[1,tr. Như vậy Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn chú trọng và lấy hôn nhân và gia đình là trọng tâm để phát triển các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. “Hôn nhân” là cam kết giữa người nam và người nữ sau khi kết hôn, dưới sự điều chỉnh của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Khi có sự cam kết bằng pháp luật nam, nữ trở thành vợ chồng hợp pháp của nhau tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân từ đó hình thành “Thời kỳ hôn nhân” .Sau khi thời kỳ hôn nhân hình thành vợ chồng phát sinh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Thời kỳ hôn nhân được tính từ khi nam, nữ kết hôn và có sự công nhận pháp luật, giai đoạn thời kỳ đầu của hôn nhân tài sản chung vợ, chồng có được chủ yếu do tặng cho chung, sau một thời gian vợ, chồng làm ăn, sinh sống số tài sản chung được phát triển nhiều hơn. Những tài sản này do hai vợ, chồng quản lý và đồng sở hữu, nhưng phải chịu sự tác động và điều chỉnh của 7 BLDS 2015 và Luật HN&GĐ 2014. Luật quy định vợ, chồng được thực hiện quyền chiếm hữu, quyền định đoạt, quyền sử dụng tài sản chung theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng.
Dựa vào mối liên hệ xã hội quan hệ tài sản gồm hai nhóm cơ bản, nhóm liên quan đến quyền sở hữu và nhóm hình thành trong quá trình lưu chuyển tài sản giữa các chủ thể. Đối với nhóm lưu chuyển thứ hai này sẽ phù hợp với chế định chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung gồm những tài sản vợ, chồng tạo ra trong lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác. Theo quy định pháp luật vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, Khoản 2 Điều 210 Bộ luật Dân sự 2015 quy định.
Như vậy, vợ chồng có quyền thỏa thuận, phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, để nắm rõ và đi cụ thể từng khái niệm trong một nội hàm lớn về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải tách bạch khái niệm “Thời kỳ hôn nhân” là gì? Và “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”. Thời kỳ hôn nhân là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, bắt đầu từ khi kết hôn và chấm dứt khi một bên vợ hoặc chồng chết. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xin ly hôn thì thời kỳ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật kể từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Trong thời kỳ hôn nhân có hai quan hệ phát sinh song song, quan hệ hôn nhân và quan hệ tài sản. Quá trình này tài sản là công cụ chủ yếu đảm bảo các hoạt động của gia đình và tài sản cũng là yếu tố dễ phát sinh tranh chấp nhất khi hai bên vợ chồng mâu thuẫn. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hiện nay là một khái niệm mới chưa được nhiều nhà làm luật định nghĩa rõ ràng, nhưng căn 8 cứ theo quy định pháp luật tại Điều 38, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 vợ, chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Để hiểu rõ thế nào là chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đầu tiên phải làm rõ “chia” là như thế nào, chia theo từ điển Tiếng Việt là “Phân ra, san ra từng phần từ một chỉnh thể”.
Vậy hiểu một cách cơ bản chia là phân số tài sản chung của vợ chồng thành khối tài sản nhỏ hơn, theo yêu cầu. Và từ đây cũng có một số nhà luật học tiếp cận khái niệm thế nào là “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” được ghi nhận tại các bài khóa luận, luận văn thạc sĩ. Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Vân định nghĩa: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ, chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cho mỗi bên vợ, chồng dựa trên các căn cứ luật định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng dựa trên các căn cứ luật định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm châm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật”[21]. Lưu Việt Thắng đưa ra khái niệm như sau: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ, chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cho mỗi bên vợ, chồng theo quy đinh của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan.
Việc chia tài sản chung này không làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật”[22]. Những nhận định trên của các tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân và Lưu Việt Thắng gần như đã tiếp cận một số góc nhìn về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, dưới góc độ này có thể hiểu pháp luật ưu tiên 9 sự thỏa thuận, tài sản trước khi chia thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng cân bằng lợi ích các bên. Hơn nữa việc chia tài sản không làm chấm dứt lợi ích các bên. Từ những gì tìm hiểu các đầu sách chính thống thì đến nay chưa có một định nghĩa chính xác, chuyên sâu về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng qua những tìm hiểu ở trên đã có một số nhà luật học đưa ra khái niệm theo ý kiến khách quan.
Vậy nên, cũng nhìn nhận từ một số góc độ tiếp cận tôi xin mạnh dạn đưa ra khái niệm sau: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ chồng thỏa thuận với nhau phần tài sản cần chia và lập thành văn bản. Văn bản này phải đáp ứng đầy đủ quy định pháp luật. Và khi tài sản vợ chồng yêu cầu chia không thể thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giải quyết, để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho vợ chồng”. Đặt ra quy định chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân sau khi vợ, chồng kết hợp tạo ra khối tài sản chung hợp nhất, thì trong sự ghi nhận này lại phân khối tài sản ra thành của riêng nhưng điều đáng lưu ý tại đây quan hệ tài sản có thể thay đổi nhưng quan hệ nhân thân và hôn nhân thực tế vẫn còn tồn tại.
Tài sản chia ra như dòng lưu chuyển tuy tách bạch nhưng không chấm dứt nghĩa vụ đối với các bên còn lại. Đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Thông qua khái niệm, đã có thể hình dung được những quyền và yêu cầu vợ, chồng cần đáp ứng khi thực hiện hành vi dân sự. Nhưng để hiểu và nắm đúng bản chất thì thông qua đặc điểm bên ngoài sẽ giúp bộc lộ rõ hơn. Thỏa thuận, phân chia theo quy định pháp luật.
10 Khi vợ chồng phân chia số tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ số tài sản chung. Ghi nhận sự thỏa thuận thông qua văn bản. Văn bản này phải được công chứng đúng theo quy định Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng 2014. Khi công chứng thì công chứng viên tại văn phòng phải chứng thực tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự.
Giải quyết khi vợ chồng có nhu cầu phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Khi vợ chồng cùng nhau thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhưng không thể thỏa thuận được chia tài sản như thế nào thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ căn cứ yêu cầu của vợ chồng để đưa ra quyết định, việc Tòa án đồng ý hay không đồng ý phải được lập dưới hình thức một bản án có hiệu lực pháp luật. Quyết định cuối cùng có hiệu lực pháp luật phải bằng phán quyết của Tòa án ghi lại đã có sự việc xảy ra và đưa ra phương án giải quyết căn cứ vào các quy định của BLDS, BLTTDS, Luật HN&GĐ,.
Đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ tài sản vợ chồng. Trong tất cả các tranh chấp dân sự, yếu tố cần không được vi phạm đó là giữ đúng nguyên tắc giải quyết của các bên, ở đây nói đến nguyên tắc vợ, chồng khi chia tài sản chung trong TKHN phải được đáp ứng đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp. Ngoài ra song song với quyền là nghĩa vụ vợ, chồng khi được hưởng tài sản cần thực hiện đúng trách nhiệm với vợ, chồng, con chưa thành niên và đã thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động để nuôi sống chính bản thân, đây là những người có nhân thân quan hệ trực tiếp đối với mối quan hệ tài sản vợ, chồng yêu cầu chia. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Căn cứ tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có thể rút ra được ba nguyên tắc cơ bản.
- Nguyên tắc 1: Sau khi đăng ký kết hôn vợ, chồng có quyền thỏa thuận về việc phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 Luật HN&GĐ 2014. - Nguyên tắc 2: Việc chia tài sản chung của vợ chồng không được xâm phạm lợi ích của gia đình.