CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN YÊU CẦU LY HÔN CỦA VỢ, CHỒNG 1. Khái niệm ly hôn và quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng 1. Khái niệm ly hôn Ly hôn là một giải pháp đáng cân nhắc khi mối quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng và đã đến mức tan vỡ hoàn toàn. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền tự do kết hôn của nam và nữ là đặc trưng cho quan hệ tình yêu và sự thấu hiểu, trong khi quyền tự do ly hôn thể hiện quyền tự quyết của mỗi cá nhân trong việc chấm dứt một mối quan hệ đã mất đi tính ổn định và hạnh phúc.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hôn nhân chỉ tồn tại khi có tình cảm và tình yêu thực sự, còn quyền tự do ly hôn là cách để giải phóng mọi bên khỏi một mối quan hệ mà họ cảm thấy không còn hạnh phúc và tích cực nữa. Điều này phản ánh quan điểm về quyền con người và quyền tự quyết của mỗi cá nhân trong việc quyết định về cuộc sống hôn nhân của họ. Theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, ly hôn có thể hiểu là chấm dứt quan hệ vợ chồng thông qua sự công nhận hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, được yêu cầu bởi vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng1. Đây là cách giải thích phổ biến được sử dụng trong các nghiên cứu và trong thực tiễn xử lý các vụ việc liên quan đến ly hôn.
Theo định nghĩa này, ly hôn đơn giản là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, nghĩa là mối quan hệ hôn nhân giữa hai bên không còn tồn tại, và mọi quyền và nghĩa vụ của họ sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên. 1 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, trang 460. 9 Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam của giáo sư Nguyễn Lân định nghĩa: “Ly hôn là vợ chồng bỏ nhau”2, đây là một cách hiểu thông thường của xã hội, đơn giản nhưng không thể hiện tính pháp lý của việc ly hôn bởi không phải trường hợp nào vợ chồng bỏ nhau cũng là ly hôn, bởi trong nhiều trường hợp, vợ chồng tuy không thực hiện các nội dung của quan hệ vợ chồng với nhau nhưng vẫn còn ràng buộc pháp lý bởi chưa thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định pháp luật. Theo Điều 8 Khoản 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”3.
Theo Điều 3 Khoản 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”4. Nhìn chung, khái niệm ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có sự điều chỉnh so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên, về mặt bản chất, cả hai đều phản ánh việc ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân, để giúp các bên trong mối quan hệ này thoát ra khỏi tình trạng hôn nhân không thể tiếp tục. Khái niệm ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thể hiện sự cụ thể hơn khi đề cập đến bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử và có vai trò quan trọng trong việc tuân thủ và chấp hành các quy định của pháp luật, đặc biệt trong việc xử lý các vụ ly hôn. Quyết định của Tòa án về ly hôn được thể hiện dưới hai hình thức chính: bản án và quyết định. Nếu cả hai bên vợ chồng đều đồng thuận và giải quyết được tất cả các nội dung sau khi ly hôn thì Tòa án sẽ 2 Nguyễn Lân (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 1057. 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 8, Khoản 8.
4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Khoản 14, Điều 3. 10 công nhận ly hôn dưới hình thức quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, nếu vợ chồng mâu thuẫn, có tranh chấp, Tòa án sẽ tiến hành xét xử và đưa ra phán quyết ly hôn dưới dạng bản án. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với các mối quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, và điều này mang lại lợi ích cho cả vợ, chồng, con cái và các thành viên khác trong gia đình.
Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực của ly hôn, cũng tồn tại những khía cạnh tiêu cực. Ly hôn có thể gây chia rẽ trong quan hệ gia đình, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và tương lai của các thành viên, đặc biệt là con cái, và còn có thể tạo ra tác động xã hội. Như vậy, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng thông qua một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Điều này xảy ra dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng và nó là kết quả của hành động có ý chí của họ khi họ tận dụng quyền tự do ly hôn của mình.
Khái niệm và các đặc trưng của quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng 1. Khái niệm quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng Quyền hiểu theo nghĩa thông thường là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế được ghi nhận trong luật pháp, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành… và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại. Như vậy, quyền ly hôn có thể được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là quyền được chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ và chồng theo quy định của pháp luật. Quyền yêu cầu ly hôn được xuất phát từ quyền tự do ly hôn, nam nữ có quyền tự do ly hôn, họ hoàn toàn được quyết định vấn đề này và các vấn đề về con chung cũng như tài sản.
Quyền tự do ly hôn của vợ chồng đã được nhà nước ta ghi nhận nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng và các chủ thể có liên quan. Hiến pháp 2013 quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một 11 chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” và cụ thể hóa tại Điều 42 về Quyền ly hôn: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Quyền tự do ly hôn cũng được thể hiện qua nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là nguyên tắc đầu tiên trong số 5 nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình (Khoản 1 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình 2014).
Hôn nhân tự nguyện tiến bộ, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác bao hàm cả hai khía cạnh, đảm bảo quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn. Xuất phát từ chỗ tình yêu được coi là cơ sở của hôn nhân cho nên việc quyết định lựa chọn người bạn đời và đi đến hôn nhân phải là việc của bản thân hai bên nam nữ. Mặt khác, khi tình yêu giữa hai bên nam nữ không còn nữa thì việc đảm bảo cho họ được tự do ly hôn lại thực sự cần thiết vì như vậy là giải phóng cho họ. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác, Luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta đã ghi nhận nguyện, tiến bộ là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, trên cơ sở này nam nữ được bình đẳng trong việc thực hiện quyền kết hôn cũng như ly hôn theo quy định của pháp luật.
Mặc dù sự chấm dứt quan hệ vợ chồng là một hiện tượng khách quan tồn tại từ lâu trong xã hội loài người như là một mặt trái của việc kết hôn, tuy nhiên không phải quyền ly hôn lúc nào cũng được ghi nhận một cách đầy đủ, bình đẳng trong lịch sử. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, quyền ly hôn là một quyền công dân được quy định trong Hiến pháp, cùng với quyền kết hôn tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013 thì “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn”5. Quy định này cũng được cụ thể hóa tại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tại Điều 35 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định ly hôn là một quyền nhân thân tức quyền được gắn với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao 5 Hiến pháp năm 2013, Điều 36. 12 cho người khác.
Các quy định này giành cho mọi công dân đều có quyền ly hôn bình đẳng như nhau, không bị hạn chế, không có sự phân biệt. Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền yêu cầu ly hôn được quy định cụ thể như sau: “Điều 51: Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn 1. Vợ chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”6. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (Khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Như vậy, khi có quyền tự do ly hôn thì Nhà nước cũng trao quyền yêu cầu ly hôn cho vợ chồng. Nhà nước không thực hiện quyền này một cách tùy tiện, việc ly hôn phải đặt được quy định trong pháp luật, được vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng yêu cầu và chỉ khi có những tình tiết đó thì Tòa án mới được xử cho ly hôn.