Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE HẬU QUÁ PHÁP LÝ CUA VIỆC NUÔI CON NUÔI 1. MOT SO KHÁI NIỆM CƠ BAN 1. Khái niệm nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là một vấn đề mang tính đạo đức xã hội sâu sắc, thé hiện tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người, được pháp luật thừa nhận và điều chỉnh. Quan hệ nuôi con nuôi giữa các chủ thể được xác lập có thể xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau như lợi ích về vật chất, lợi ích về tinh thần; cụ thé: nhận nuôi con nuôi để có con, dé có người chăm sóc, dé có người nối dõi, có người thờ tự, có thêm người lao động hay xuất phát từ lòng nhân ái, sự biết ơn, sự chia sẻ, lòng cảm phục hay sự hướng thiện của con người.
Cùng với xu thế phát triển chung của xã hội, quyền lợi của trẻ em ngày càng được Dang, Nhà nước ta quan tâm và chú trọng nham mang đến cho trẻ em những lợi ích tốt đẹp nhất; đặc biệt là những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa — đối tượng cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt nên việc nuôi con nuôi luôn được khuyến khích và luôn được quan tâm một cách thích đáng. Việc nuôi con nuôi có thê xem xét dưới nhiêu góc độ khác nhau như dưới góc độ sinh học, dưới góc độ xã hội và dưới góc độ pháp lý. Trong phạm vi của luận văn, tác giả đê cập đên nuôi con nuôi dưới hai góc độ đó là góc độ xã hội và góc độ pháp lý. - Dưới góc độ xã hội: Xét dưới góc độ này, việc nuôi con nuôi không đặt ra những điều kiện khắt khe mà chủ yếu nhằm đáp ứng những nhu cầu lợi ích về vật chất và tinh thần nhất định.
Thực tế cho thấy, việc làm hình thành quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trên thực tế không nhất thiết phải có sự thừa nhận của cơ quan Nhà nước có thấm quyền. Việc nuôi con nuôi trên thực tế tồn tại nhiều các hiện tượng trong đó có thé ké đến như nuôi con nuôi trên danh nghĩa, nuôi con nuôi thực tê, nuôi con nuôi theo phong tục tập quán, nuôi con nuôi dé lay phúc và nuôi con nuôi để khuếch trương quyền thé của gia đình. Vi du: Nuôi con nuôi thực tế là hiện tượng nuôi con nuôi trong đó người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi đã gắn bó với nhau, thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con trên thực tế nhưng không đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thâm quyên. Nuôi con nuôi trên danh nghĩa là hiện tượng nuôi con nuôi được xác lập do sự thỏa thuận giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên hoặc giữa cha, mẹ đẻ và cha, mẹ nuôi của con chưa thành niên trên cơ sở tình cảm, ước nguyện gắn bó giữa hai gia đình.
Những quan hệ nuôi con nuôi hình thành, tồn tại trên thực tế không phải bao giờ pháp luật cũng công nhận song các hiện tượng đó vẫn tôn tại bởi ngoài sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật còn có sự điều chỉnh của quy phạm đạo đức, phong tục tập quán và đạo đức truyền thống. Như vậy, dưới góc độ này, nudi con nuôi là một quan hệ xã hội giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi nhăm hình thành quan hệ cha mẹ và con dé thỏa mãn những nhu cấu và lợi ích nhát định cua các bên. - Dưới góc độ pháp lý: Việc nuôi con nuôi phải đáp ứng những điều kiện do Luật định và về nguyên tắc cần có sự công nhận của cơ quan Nha nước có thẩm quyền. Dé xác lập quan hệ nuôi con nuôi trên cơ sở pháp lý, các bên trong quan hệ này cần đáp ứng những điều kiện nhất định mà pháp luật đưa ra.
Ví du: Đối với người nhận nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo; có tư cách đạo đức tốt. Còn đối với người được nhận làm con nuôi thì phải là trẻ em dưới 16 tuổi; trường hợp người đủ l6 tuôi đến dưới 18 tuôi được nhận làm con nuôi khi cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. Khi các bên có nhu cầu muốn nhận con nuôi hay mong muốn làm con nuôi người khác cùng với việc đáp ứng đủ các điều kiện nhất định, để được pháp luật công nhận thì các bên cần tiến hành đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc nuôi con nuôi được công nhận sẽ làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.
Tùy theo sự thỏa thuận mà quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và người con đã đi làm con nuôi chấm dứt toàn bộ quyền và nghĩa vụ với nhau hay không. Quy định này nhăm tạo ra khung pháp lý để đảm bảo việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con được bên vững, đảm bảo cho con nuôi được sông trong môi trường tốt nhất. Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 về giải thích từ ngữ có quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa những người nhận con nuôi và người được nhận làm con muô?°. Khái niệm nay chi mới xem xét việc nuôi con nuôi với tư cách là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi mà chưa xem xét việc nuôi con nuôi với tư cách là một nhóm quan hệ xã hội ton tại giữa các chủ thể có liên quan đến việc cho và nhận nuôi con nuôi, cũng như liên quan đến quá trình thực hiện việc nuôi, chấm đứt việc nuôi.
Do đó, dưới góc độ về mặt pháp lý, nếu xem xét việc nuôi con nuôi với tư cach là một quan hệ pháp luật thì nuôi con nuôi là quan hệ giữa các chủ thể trong việc nuôi con nuôi được các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhằm đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Khái niệm hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường hay nói và hay nghe đến hai từ “hậu quả”. Vậy hậu quả được hiểu như thế nào? Về khái niệm này có nhiều quan điểm khác nhau trong đó có hai quan điểm chính: Quan điểm thứ nhất cho rằng hậu quả là cái gì đó không hay, không tốt và được hiểu theo nghĩa tiêu cực hay còn gọi là theo nghĩa hep. Theo Từ dién tiếng Việt, “hdu quả là kết quả không hay, có ảnh hưởng về sau” [50, tr.
Quan điểm thứ hai, khác với quan điểm thứ nhất, quan điểm này cho rằng hậu quả được hiểu theo nghĩa rộng, có thể bao gồm cả điểm tích cực và tiêu cực. Theo đó, hậu quả là kết quả sinh ra từ một hành vi và sự kiện nào đó mà thôi; hiểu theo nghĩa này có thé thay hậu qua được dùng không khác so với khái niệm hệ quả. Qua phân tích khái niệm hậu quả ở trên, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai đó là hiểu khái niệm hậu quả theo nghĩa rộng. Theo đó, hậu quả pháp lý được hiểu là những vấn đề pháp lý phát sinh từ những hành vi, sự kiện nào đó và được pháp luật công nhận.
Khi xem xét hậu quả pháp lý cần xem xét đến việc phát sinh hay cham dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoặc quyền và nghĩa vụ của các bên được phát sinh, thay đôi, chấm dứt, được chuyền từ chủ thé này sang chủ thể khác như thé nao. 10 Điều 2 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định về mục đích của việc nuôi con nuôi là “nhdm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu đài, bên vững, vì lợi ích tot nhất của người được nhận làm con nuôi, bao dam cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo đục trong môi trường gia đình”. Các chủ thê trong việc nhận nuôi con nuôi phải ý thức được mục đích hợp pháp của việc nhận nuôi con nuôi trước khi tiễn hành các thủ tục pháp lý của việc nuôi con nuôi. Việc nuôi con nuôi sẽ làm phát sinh những mối quan hệ mới, có thể làm chấm dứt hoặc không làm chấm dứt những mỗi quan hệ đang tồn tại.
Do đó, việc đưa ra khái niệm toàn diện về hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi sẽ xác định chính xác các mối quan hệ do việc nuôi con nuôi mang lại. Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi là tổng hợp các quyên và nghĩa vụ pháp ly giữa người được nhận làm con nuôi với người nhận nuôi con nuôi, với gia đình gốc và với các chủ thể khác có liên quan sau khi thủ tục nuôi con nuôi hoàn tat. Khi việc nuôi con nuôi dam bao đúng mục đích, ý nghĩa xã hội thi sẽ kéo theo hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi được đảm bảo thực hiện trong thực tế. Do đó, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định các hành vi cắm trong việc nuôi con nuôi (Điều 13) bao gồm: - Lợi dụng việc nuôi con nuôi đê trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, bắt cóc, mua bán trẻ em; - Giả mạo giấy tờ dé giải quyết việc nuôi con nuôi; - Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi; - Lợi dụng việc nuôi để vi phạm pháp luật về dân số; - Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiêu sô đê hưởng chê độ, chính sách ưu đãi của nhà nước; - Ong, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị em nhận nhau làm con nuôi; - Lợi dụng việc nuôi con nuôi dé vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, dao đức, truyền thong văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
11 Những hành vi này chủ yêu nhăm đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của người được nhận nuôi trong môi quan hệ với gia đình cha mẹ nuôi, cũng như đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của các chủ thê khác có liên quan đên việc nhận nuôi con nuôi. Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi được chia thành các nhóm quan hệ sau: - Quan hệ gitra người nuôi với người được nhận nuôi; - Quan hệ giữa người được nhận nuôi với những thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi; - Quan hệ giữa người được nhận nuôi với gia đình cha mẹ đẻ.