lời mở đầu của UDHR; ICCPR và ICESRC đã khang định trẻ em được thừa nhận là chủ thé bình đăng với người lớn trong việc hưởng tất cả các quyền và tự do cơ bản được ghi nhận trong luật quốc tế về quyền con người. Tuy nhiên, do đặc trưng của trẻ em là còn non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần, bởi vậy, ngay trong UDHR, ICCPR và ICESCR, trẻ em đã được ghi nhận những quyền đặc thù, đặc biệt là quyền được chăm sóc, giáo dưỡng và được bảo vệ đặc biệt. Dựa trên cách tiếp cận đó, năm 1959, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua một văn kiện riêng về quyền trẻ em (Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em). Tuyên bố này là tiền đề để Liên Hợp Quốc xây dựng và thông qua Công ước về quyền trẻ em vào ngày 20/11/1989.
Lời nói đầu của Công ước đã ghi nhận rằng: “Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kế cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”. Tuy công ước này chỉ dành hai điều ngắn gọn (Điều 20 và Điều 21) để quy định quyền trẻ em khi được cho làm con nuôi nhưng nó đã xác lập những vấn đề cốt lõi cho chế độ nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài trên cơ sở bảo vệ quyên trẻ em. Luật nuôi con nuôi chính là khung pháp 10 lý cần thiết để Viêt Nam gia nhập Công ước Lahay 1993. Điều này đòi hỏi việc quy định các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi phải phù hợp với yêu cầu của pháp luật quốc tế.
Thứ ba, tại Việt Nam, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc bảo vệ trẻ em và các quyền của trẻ em, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ đối tượng đặc thù này. Điều này được thê hiện rất rõ thông qua các văn bản pháp luật mà Nhà nước đã ban hành như Hiến pháp, Luật HN-GD năm 2000, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Giáo dục năm 2005. Do đó, các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi cũng phải bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Cơ sở thực tiễn Thứ nhất, thực tiễn đất nước ta còn nghèo, hoàn cảnh đất nước còn phải chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh, điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn, mức thu nhập của nhân dân còn thấp nên hiện nay vấn đề nuôi con nuôi được coi là giải pháp tương đối hiệu quả nhằm đảm bảo việc chăm sóc trẻ em trong môi trường gia đình.
Bên cạnh ý nghĩa tạo dựng mái ấm gia đình thay thé cho trẻ em được nhận làm con nuôi (đa phan là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt), việc nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của người nhận con nuôi, nhất là những cặp vợ chồng hiém muộn, vô sinh nhưng khao khát được làm cha, làm mẹ; phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân, không có điều kiện sinh nở. Thực trạng này dẫn đến việc giải quyết nuôi con nuôi ngày càng nhiều. Do đó, để đảm bảo giải quyết việc nuôi con nuôi được chặt chẽ và đúng đắn thì việc quy định các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi là cần thiết và hợp lý. Thứ hai, thực tế những năm qua cho thấy, việc nuôi con nuôi đã giải quyết rất tốt quyền và lợi ích của trẻ em, nhiều trẻ sau khi được nhận làm con nuôi đã có được cuộc sông tôt đẹp hơn, được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 11 trong môi trường hiện đại, van minh va quan trọng là được yêu thương trong môi trường gia đình cha mẹ nuôi.
Tuy nhiên, những hiện tượng vi phạm các quyền cơ bản của trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi như không đảm bảo cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc, lạm dụng sức lao động của trẻ em, buôn bán trẻ em vẫn còn tồn tại, thậm chí ở một số địa phương còn “rộ” lên những trường hợp lợi dụng việc cho trẻ em làm con nuôi dé trục lợi. Nguyên nhân của những hiện tượng này chủ yếu là do Nhà nước chưa có quy định cụ thé cũng như chế tài tương ứng đối với các hành vi vi phạm. Chính vì vậy, yêu cầu phải có các quy định mang tính nguyên tắc, quán triệt toàn bộ quá trình giải quyết việc cho — nhận con nuôi là cấp thiết nhằm ngăn chặn tinh trạng trên. Quá trình hình thành các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi Ở nước ta, trước khi Luật HN-GD năm 2000 ra đời, công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi chưa được nhìn nhận như một lĩnh vực công tác chính thức của Chính phủ, mà chỉ được thực hiện lồng ghép trong chức năng quản lý và đăng ký hộ tịch nói chung.
Việc nuôi con nuôi mới được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật bằng các quy phạm riêng lẻ quy định những van đề cụ thé như điều kiện nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của các bên.nhưng chưa có quy định mang tính nguyên tắc chỉ đạo trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước trở lại đây do tác động của hiện tượng nuôi con nuôi quốc tế (người nước ngoài xin trẻ em Việt Nam làm con nuô!), lĩnh vực nuôi con nuôi nói chung được các cơ quan nhà nước và xã hội quan tâm hơn, việc nuôi con nuôi trong nước cũng tăng lên. Cùng với việc số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi ngày càng nhiều, khung khổ pháp lý về nuôi con nuôi cũng ngày hoàn thiện. Cụ thé là Luật HN-GD năm 2000 đã dành hắn chương VIII để quy định về van đề nuôi con nuôi.
Tuy nhiên, Luật HN-GD năm 2000 là văn bản điều chỉnh tổng hợp các van đề về quan hệ nuôi con nuôi như điêu kiện nuôi con nuôi, quyên và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và 12 con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi.còn việc điều chỉnh cụ thé lại có các văn bản hướng dẫn, trong đó mỗi văn bản hướng dẫn một van đề như: Nghị định 158/2005/NĐ-CP chỉ quy định về việc đăng ký nuôi con nuôi trong nước; Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP chỉ điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Nghị định 32/2002/NĐ-CP chỉ có Điều 16, Điều 17 quy định về đăng ký nuôi con nuôi cho các dân tộc thiêu số.Do vậy, pháp luật trong thời kỳ này không có những nguyên tắc chung cho việc giải quyết nuôi con nuôi. Riêng đối với van đề nuôi con nuôi nước ngoài, theo quy định tại Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP thì việc giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Thứ nhất, “việc cho, nhận trẻ em làm con nuôi chỉ được thực hiện trên tỉnh thần nhân đạo, nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em. Nghiêm cam lợi dụng việc nuôi con nuôi dé bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì các mục đích khác không phải mục đích nuôi con nuôi; nghiêm cam lợi dụng việc giới thiệu, giải quyết, đăng ký cho trẻ em làm con nuôi nhăm mục đích trục lợi, thu lợi vật chất bất hợp pháp”. Đây là nguyên tắc rất quan trọng, lần đầu tiên được quy định chính thức trong văn bản pháp luật, thê hiện quan điểm của Nhà nước ta là việc cho nhận con nuôi vì mục đích nhân đạo và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Thứ hai, “người nước ngoài thường trú ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi được xem xét giải quyết, nếu Việt Nam và nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc điều ước quốc tế nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi”. Đây là một quy định mới đã làm thay đổi căn bản trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi, làm phạm vi người nước ngoài có thể xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi giảm đi rất nhiều. Quy định này đảm bảo tốt hơn 13 lợi ích của trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài, vì nó tạo ra cơ sở pháp lý bảo vệ trẻ em qua các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi. Thứ ba, “người nước ngoài thường trú ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, mà nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú và Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc điều ước quốc tế nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi thì cũng được xem xét giải quyết, nếu người đó thuộc một trong các trường hợp được pháp luật quy định”.
Đó là những trường hợp có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên; có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam; có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin nhận làm con nuôi hoặc đang có con nuôi là anh, chi, em ruột của trẻ em được xin nhận lam con nuôi. và các trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định. Như vậy, lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi có đặt ra những nguyên tắc làm cơ sở chỉ đạo việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, các nguyên tắc này chỉ điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài nên chính điều này lại tạo ra sự tách biệt giữa pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi trong nước và pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tô nước ngoài.
Vô hình chung điều này đã tạo ra những kẽ hở mà những cá nhân hoặc các cơ sở nuôi dưỡng lợi dụng dé trục lợi. Nhằm khắc phục những hạn chế đó, Luật nuôi con nuôi đã ra đời. Luật nuôi con nuôi đã quy định các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi một cách hệ thống, rõ ràng trong một điều luật. Các nguyên tắc này xác lập những quan điểm hoàn toàn mới trong giải quyết việc nuôi con nuôi so với trước đây nhằm phù hợp với các yêu cầu của thực tiễn nuôi con nuôi và các văn bản pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế.