Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE QUAN HỆ NUÔI CON NUOI CÓ YẾU TÓ NƯỚC NGOÀI 111. Khái niệm chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. LLL Khái niệm nuôi con nuôi 'Vẻ mặt zã hội, nuôi con nuối mang tính nhân dao sâu sắc trong mối quan hệ giữa con người với con người. Đây chính là gidi pháp ác lập quan hệ gắn bó lâu dài giữa người nhân nuôi con nuôi vả người được nhận lam con nuôi nhằm hình thành quan hệ cha mẹ và con vi lợi ich tốt nhất của người được nhân làm con mudi cũng như théa mãn nhu du, lợi ich nhất định của người nhận nuôi con nuối.
'Về mặt sinh hoc, quan hệ cha me vả con được hình thành trên cơ sở sinh. đề, trong đó có sự di truyền gen tir thể hệ cha me sang thé hệ con cải nên con để bao giờ cũng mang huyết thống của cha me. Ngược lại, con nuôi không có quan hệ huyết thông trực hệ với cha me nuôi và không mang gen di truyền của cha mẹ nuối. Trong một sổ trường hợp, người được nhận làm con nuôi có thể có quan hệ huyết thông với người nhân nuôi, như chú nhân cháu lâm cơn.
nuôi, nhưng giữa ho không thể có quan hệ sinh thành Do đó, đưới góc đô sinh học, con nuôi và người nhận con nuôi (cha me nuôi) không có liên hệ với nhau về mất sinh học, không có quan hệ huyết thống với nhau hoặc tuy có quan hệ huyết thống với nhau trong phạm vi nhất định nhưng không phải là quan hệ huyết thống trực hệ vả không sinh thảnh ra nhau ? ‘Vé mặt pháp lý, sự công nhân của cơ quan nha nước có thẩm quyền la yên tổ quyết định đến hiệu lực pháp lý của quan hệ nuôi con nuối. Với sự công nhận trên, quan hề nuôi con nuôi không chỉ dua trên ý chi của các chủ. Neva ng Lm *. hen hổ inp W vd mi cone TC Nm, ‘Luin am Tiên sĩ Luật học, Trưởng Đại học Init Bà Nội.
quan hệ mà còn la ý chí của nha nước đăm bảo quyển lợi của các bên, thông qua hệ thông các quy phạm điểu chỉnh mỗi quan hệ này. Vi vay, nuôi con nuôi con có thể được hiểu với tư cách là một chế định pháp ly. Chế: định nuôi con nuôi là tổng hợp các quy pham pháp luật, do nha nước ban hành, điểu chỉnh việc xác lấp, thưc hiện, thay đổi, cham dit các quyển. và nghĩa vu pháp lý của các chủ có liên quan trong việc cho nhận con nuôi, trên cơ sở hình thành quan hệ cha me va con giữa người nhận nuôi và người được nhân làm con nuôi.
Pháp luật Việt Nam chỉ rõ khái niệm nuôi con nuôi tại khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: Nuôi con nuôi la việc xác lập quan hệ cha, me và con lêu dai, bên vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận lâm. con nuôi thông qua việc đăng ký tai cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các ‘bén có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vi lợi ích tốt nhất của trẻ em được nbn lam con nuôi, bao dim trẻ em được yêu thương, chm sóc, nuôi dưỡng va giáo duc trong môi trường gia đính thay thế Khái niêm này đã nêu lên việc xác lap quan hé giữa cha, me va con bằng con đường nuôi dưỡng dé phân biệt với việc hình thành quan hệ giữa cha, me và con bing con đường huyết thông Nếu như quan hệ giữa cha, me dé và con để là quan hệ gia din “huyết thống" được hình thành do việc sinh đề thi quan hệ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi là quan hệ "nhân tao” được sắc lap về mất pháp lý. 'Việc nhân nuôi được coi là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hé muôi dưỡng giữa người nhân nuôi vả con nuôi, bao gồm các sử kiện: sự thể hiện ý chí của người nhân nuôi con nuôi: phải thể hiệný chí của minh về việc ‘mong muôn nhân nuôi tré; sự thể hiện ý chí cũa cha me dé hoặc người giám. hộ của trễ em được cho lảm con nuôi: ý chí này phải hoàn toàn độc lâp, sư thể hiện ý chi của bản thân người con nuôi: con từ 9 tuổi trở lên có quyển được thể hiện ý chí đối với việc nhân nuôi va sự thể hiện ý chí của Nha nước: qua 10 việc công nhận (hay không công nhận) việc nuôi con nuôi thông qua thủ tục đăng ký việc nuối con nuôi.
Như vay, một quan hệ nuôi con nuôi chỉ được xác lập khi có sư tham gia cùng lúc của hai loại chủ thể hưởng quyền, có kha năng. vả điểu kiện thực hiện các quyền chủ thể tương ứng, do là “chủ thể nhận nuôi con nuôi” (cha, me nuôi) va “chủ thể được nhân làm con nuôi” (con nuôi). Khái niệm nuôi cơn nuôi có yẫu tổ tước ngoài Trong thời đại toàn cầu hóa, việc nhân nuôi con nuôi đã trở thành mỗi quan tâm của các nước trên thể giới. Việc người nước ngoai nhận trẻ em lam ccon nuổi đổ trở lên phổ hiển trong mấy thập kỹ pin ty, Vì vậy, để bả về kế em và phòng chong lạm dung van dé nuôi con nuôi có yêu to nước ngoài, công đồng quốc tế thông qua các tuyến bồ, điển ước quốc tế đa phương va song phương với các quy tắc va nguyên tắc quy định về việc nuôi con nuôi.
‘Theo đó, pháp luật quốc tế chỉ ra nuôi con nuôi có yêu tô nước ngoài là việc xác lập quan hệ cha me va con giữa hai bên chủ thể khác quốc tịch hoặc có cũng quốc tích nhưng sự kiên nhân nuôi con nuôi xây ra ở nước ngoái. "Thuật ngữ "nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài” bất đầu được sử dung ở nước ta khi Luật Hôn nhân và gia đính năm 2000 được Quốc hội thông qua. Từ đó đến nay, thuật ngữ này vẫn được sử dung trong các văn ban pháp luật hiện hành như Luật Nuôi con nuối 2010, cụ thé tại Chương III: Nuôi con nuôi có yéu tô nước ngoài. Chương này gồm 16 diéu (từ Điều 28 đến Điều 43) quy định vé các trường hop nuối con nuôi có yêu tổ nước ngoài, điều kiện đối với người nhân con nuối; người được nhận làm con nudi:trinh tự, thủ tục nuôi con.
Ngoài ra, còn có nghĩ định số 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn chỉ tiết thi hanh một số điều của Luật Nuôi con muôi, nghị định 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung mét số điều của Nghĩ định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thí hảnh một số diéu của Luật Nuôi con nuôi va các văn bản hướng dẫn thi hảnh khác. ul Vẻ "yếu tô nước ngoài" trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tô nước. ngoai bao gồm ba yêu to, cụ thể như sau: ~ Thứ nhất, yêu 18 quéc tịch nước ngoài: Pháp luật Việt Nam và pháp luật của nhiễu nước trên thé giới có nét đặc trưng chung lê đều lấy dẫu hiệu quốc tịch để định nghĩa người nước ngoài. Có thể khái quát người nước ngoài.
là người không có quốc tịch của nước sở tại. Việc cho nhận con nuôi trở thành quan hé nuôi con nuôi có yêu tổ nước ngoài khi các bến tham gia có quốc tịch khác nhau. Quốc tịch nước ngoài là một yếu tổ truyền thống để xác đính yêu tổ ngoại lai, đồng thời cũng để sác định luật áp dụng đối với điều kiên midi con nuôi của người nước ngoài. Trong tư pháp quốc tế, quốc tịch nước ngoài của trẻ em cúng được dan chiều nhằm lựa chọn luật áp đụng đối với điều kiện nuôi con nuôi của trẻ em: độ tuổi được cho làm con nuôi, ý kiến đẳng y cho tré em lâm con nuôi ~ Thứ hai, yễu tố nơi cư trú thường trú 6 nước ngoài: Từ Luật Hân.
nhân và gia đình năm 2000 đã bổ sung yếu tổ cư trú/ thưởng trú của các chủ: thể tham gia vảo quan hệ nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoai (cụ thé của người nhân con nuôi hoäc của người được nhận lâm con nuôi) là một yêu tổ phé biển để xác định quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. nơi cư trú thường trú được xác định theo pháp luật riêng của mỗi quốc gia. Vi thé nuôi con nuôi có yêu tổ nước ngoài không chỉ là một quan hệ phát sinh trong phạm vi một quốc gia ma có thể vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ. của quốc gia.
việc nuôi con nuôi xây ra tại nước ngoài: nuôi con nuôi có yên tổ nước ngoài cũng là một quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân va gia định có yêu. tổ nước ngoài. Luat Hôn nhân và gia đình 2014 cũng đã đưa ra khái niệm rõ rang về quan hệ hôn nhân và gia đính có yêu tô nước ngoài tại khoăn 25 Điều 3: “quan hệ hôn nhãn va gia đình có yếu tổ nước ngoài là quan hé hôn nhân. 2 và gia đính mà it nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cử ỡ nước ngoài, quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bén tham gia la công dân Việt Nam nhưng căn cứ dé xác lập, thay đổi, chám đứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sn liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoải”.
Theo đó, yêu tổ nước ngoải cũng được xác định dua vào sự kiên pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay châm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài. Đây cũng là một trong những cơ sở để cơ quan nha nước có. thấm quyển xác định đúng luật áp dung để giải quyết tranh chấp liên quan đến các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài. Đồi chiếu khái niệm nuôi con nuôi có yêu tổ nước ngoài được gii thích.
tại khoản 5 Điểu 3 Luật Nuôi con nuôi 2010: "nuôi con nuôi cỏ yêu tổ nước ngoai là việc nuối con nuôi giữa công dan Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoai với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài", Có thể thay, quan hệ nuôi con nuôi được cho là có yêu tổ nước ngoài khi có một trong những yêu tổ sau: - Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 'Yêu tổ nước ngoài trong quan hệ này chính là yêu tô quốc tích. Theo khoản 1 Điều 3 Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cu trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 thì: "Người nước ngoài là người mang giây tờ xác đính quốc tích nước ngoài và người không quốc tích nhập cảnh, xuất cảnh, quá cénh, cư trú tại Viết Nam".