Chương I. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của BLHS Việt Nam. So sánh quy định của BLHS Việt Nam và Luật Hình sự của một số nước trên thế giới về tội phạm trong lĩnh vực bảo vệ các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm và những đề xuất. TOI VI PHAM CÁC QUY ĐỊNH VE BAO VỆ ĐỘNG VAT THUỘC DANH MỤC LOÀI NGUY CAP, QUÝ, HIẾM DUOC UU TIÊN BẢO VỆ THEO QUY ĐỊNH CỦA BLHS VIỆT NAM BLHS 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ hop thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000.
BLHS 1999 được xây dựng trên cơ sở sửa đôi, bố sung một cách tương đối toàn diện BLHS 1985 nhưng có kế thừa những nội dung hợp lý, tích cực của BLHS nay. BLHS 1999 được sửa đôi, bố sung năm 2009 do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2010, trong đó Điều 190 BLHS 1999, Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được sửa đồi, bố sung nhằm dam bảo sự phù hợp với Luật Đa dạng sinh học 2008. Ngày 27 tháng 11 năm 2015, BLHS 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua, dự kiến có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2016. Tuy nhiên, ngày 29 tháng 6 năm 2016 Quốc hội ban hành Nghị quyết số 144/2016/QH13 theo đó lùi hiệu lực thi hành của BLHS 2015 nhằm rà soát lại các Điều luật đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với tình hình thực tiễn.
Về cơ bản, BLHS 2015 đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công cuộc đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyên, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nha nước và tổ chức, bảo vệ và thúc day kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta. Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của BLHS Việt Nam Liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ động vật hoang da nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, các quy định trong BLHS 1999 (sửa đổi, bố 10 sung 2009) tại Điều 190 đã được sửa đổi dé phù hợp với quy định của Luật Đa dạng sinh học 2008. Trên thực tế Điều 190 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) hiện đang có nhiều bất cập gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong quá trình áp dụng. Dé hiểu rõ hơn nội dung các quy định của Điều luật này cần tìm hiểu dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, cụ the: 1.
Khách thé của tội phạm Khách thể của tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là các chế độ quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiểm được ưu tiên bảo vệ của Nhà nước. Các chế độ quản lý và bảo vệ này được thiết lập trong Công ước CITES mà Việt Nam là thành viên và các Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định chuyên ngành. Theo thống kê do Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, hiện nay có 43 văn bản điều chỉnh về lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, trong đó bao gồm 05 Luật, 01 Pháp lệnh, 18 Nghị định, 10 Thông tư va 09 Quyết định”. Trong đó các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP.
Điều 190 BLHS 1999 (sửa đổi, bố sung 2009) có điểm đặc trưng ở đối tượng tác động của tội phạm, đó là các loài động vật nguy cấp, quý, hiểm được ưu tiên bảo vệ. Về định nghĩa loài động vật nguy cấp, quý, hiếm, hiện nay tuy có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực động vật nguy cấp, quý, hiếm nhưng việc định nghĩa về động vật nguy cấp, quý, hiếm lại chưa được thống nhất, cụ thê: "Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tưpháp (2015), Cam nang hướng dan thực thi pháp luật về bảo vệđộng vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, NXB Tư pháp, Hà Nội, Tr. 13 Š Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Nghị định số 160/2013/NĐ-CP). 11 Tại Điều 4 Khoản 14 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 định nghĩa “Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quy, hiếm là loài thực vật, động vat có gid trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi [rƯỜng, số lượng còn it trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng thuộc Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quỷ, hiểm do Chính phú quy định chế độ quan lý, bao vé”’.
Tuy nhién, Điều 1 Khoản 20 Luật Da dạng Sinh học 2008 lại đưa ra định nghĩa “Loài nguy cấp, quý, hiém được ưu tiên bảo vệ là loài hoang đã, giống cây trông, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa - lịch sử mà số lượng con it hoặc bị đe dọa tuyệt chúng”. Điều 1 Khoản 13 Luật Da dạng sinh học 2008, “!oài hoang đã là loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nắm sinh song và phát triển theo quy luật". Tại Điều 2 Khoản 2 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP định nghĩa “động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, thuộc danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiểm do Chính phủ quy định". Luật Dau tư năm 2014 quy định tại Điều 6 Khoản 1 Điểmc về việc quy định cắm “kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang da theo quy định tại Phụ lục I cua Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cáp; mẫu vật các loại động vat, thực vật hoang đã nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguôn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 của Luật này”.
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu, sách nêu ra định nghĩa về động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, điển hình tại Cuốn sách Câm nang hướng dẫn thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang da nguy cấp, quý, hiém do Bộ Tu pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường biên soạn đã định nghĩa “Động vát hoang dã nguy cấp, quý, hiếm là những loài động vật có giá trị đặc biệt về 12 kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn it trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, thuộc danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; các loài thủy sinh nguy cáp, quý, hiém do Nghị định của Chính phủ quy định chế độ quản lý, bảo vệ theo chế độ đặc biệt” Các định nghĩa trên đều có chung nội hàm, theo đó coi động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiểm là loài động vật có giá tri đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường. Tuy nhiên các định nghĩa chưa bao hàm được toàn bộ gia tri của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm theo tinh thần của Công ước CITES. Dựa trên các định nghĩa trên va theo quy định của Công ước CITES, có thé đưa ra định nghĩa động vật hoang đã nguy cấp, quý, hiếm như sau: Động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm là những loài thuộc danh mục do Chính phủ quy định, có giá trị đặc biệt về thẩm mỹ, khoa hoc, văn hóa, môi trường, giải trí và kinh tế, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chung. Về phân loại các loài động vật hoang da nguy cấp, quý, hiếm, hiện nay theo công ước quốc tế và các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, động vật hoang đã nguy cấp, quý, hiếm được phân loại theo các nhóm khác nhau: Thứ nhất, Theo Công ước CITES, các loài động vật hoang dã nguy cấp được chia thành ba Phụ lục với khoảng 5,620 loài động vật”, cụ thé: Phụ lục I bao gồm tất cả các loài bị đe dọa tuyệt chủng do buôn bán hoặc do bị tác động của buôn bán.
Các loài thuộc Phu luc I bị nghiêm cam xuất khẩu, nhập khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật từ tự nhiên vì mục đích thương mại. Phụ lục II bao gồm danh mục những loài động vật hiện chưa bị đe doa tuyệt chủng, nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng nếu việc xuất khẩu, nhập ” Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Cẩm nang hướng dan thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, NXB Tư pháp, Hà Nội, Tr. 27 '° Theo quy định của Công ước CITES thì số lượng này có thé sẽ thay đổi sau mỗi kỳ hop Hội nghị các nước thành viên Công ước, được tô chức 2 hoặc 3 năm một lần. 13 khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật từ tự nhiên vì mục đích thương mại những loài này không được kiêm soát Phụ lục III bao gồm danh mục những loài động vật hoang dã mà một nước thành viên CITES yêu cầu nước thành viên khác của CITES hợp tác dé kiểm soát việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu vì mục đích thương mai.
Thứ hai, Luật Đầu tư 2015 chỉ nêu một Danh mục các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm NhómI (Các loài hoang da nguy cấp, quý, hiém nghiêm cam khai thác, sử dung vì mục đích đầu tư kinh doanh), bao gồm 90 loài động vật trên cạn và dưới nước như Tê tê, Cá mè Huế, Cá chình nhật v.