CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN BUÔN BÁN HÀNG CẤM 1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm sát điều tra vụ án buôn bán hàng cấm Để giải quyết vụ án hình sự nói chung phải trải qua nhiều giai đoạn và do các Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất của vụ án. Trên cơ sở kế thừa Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định rõ Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện chủ yếu hai chức năng đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một vấn đề được đưa ra tranh luận trong suốt quá trình lập Hiến và Lập pháp cũng như trong quá trình đổi mới cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp nước ta trong thời gian qua. Mỗi quan điểm đều có lập luận về khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp, nhưng trước hết cần phải khẳng định kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS, được quy định định tại Điều 137 Hiếp pháp năm 1992 (sửa đổi tại Điều 107, Hiến pháp năm 2013).
Kiểm sát hoạt động tư pháp là một dạng giám sát nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp là việc kiểm sát trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án và bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong TTHS là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát nhằm bảo đảm cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất. Khái niệm về kiểm sát điều tra vụ án hình sự 6 Trong hoạt động điều tra VAHS, THQCT là việc VKS thực hiện các biện pháp pháp luật và trực tiếp quyết định các vấn đề về tố tụng trong hoạt động điều tra nhằm mục đích chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như hành vi phạm tội của họ, kết thúc giai đoạn này hoặc là truy tố người phạm tội ra trước Toà án hoặc là đình chi vụ án theo quy định của pháp luật (khởi tố vụ án, khởi tố bị can; phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc huỷ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn của CQĐT; quyết định truy tố bị can hoặc đình chỉ vụ án, bịcan.Kiểm sát điều tra là việc VKS thực hiện các biện pháp giám sát, mục đích nhằm bảo đảm các hoạt động điều tra được tiến hành một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung của pháp luật quy định, không trực tiếp ra quyết định, chỉ ra kiến nghị khi có vi phạm pháp luật tố tụng xảy ra hoặc kiến nghị yêu cầu khắc phục các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm. Hai lĩnh vực này song song tồn tại từ khi khởi tố cho đến khi kết thúc việc điều tra và VKS ra quyết định truy tố, giữa chúng tuy độc lập về chức năng, nhưng có tác động qua lại lẫn nhau.
Nếu làm tốt nhiệm vụ THQCT sẽ hỗ trợ đắc lực cho KSĐT thực hiện vai trò của mình, như tạo điều kiện cho KSĐT tiếp cận các biện pháp điều tra nhằm duy trì pháp luật, phát hiện, khắc phục vi phạm pháp luật về tố tụng; làm tốt nhiệm vụ KSĐT sẽ giúp cho công tác THQCT phát huy khả năng quyết định quá trình tố tụng, như bảo đảm việc khởi tố, yêu cầu khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, huỷ các quyết định trái pháp luật của CQĐT một cách có căn cứ, đúng pháp luật. Như vậy, hoạt động THQCT và KSĐT tuy hai nhưng là một, hai hoạt động này phải được tiến hành song song và hỗ trợ lẫn nhau nhằm không để bất kỳ người nào bị bắt giữ, khởi tố trái pháp luật, không để lọt tội và không làm oan người vô tội, đảm bảo cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải đúng pháp luật và có căn cứ, việc điều tra được tiến hành một 7 cách khách quan, toàn diện, chính xác và đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện và khắc phục kịp thời.2 Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án buôn bán hàng cấm 1. Khái niệm tội buôn bán hàng cấm Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước quy định tại Điều 33 Hiếp pháp năm 2013 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm”[1], ngay từ khi xây dựng đất nước Nhà nước ta đã chỉ rõ mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp làm thiệt hai đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Quyền cơ bản của công dân về mặt kinh tế được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật, nhưng bất kỳ cá nhân, tổ chức nào vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Trong thực tiễn hiện nay bên cạnh các hoạt động kinh doanh hợp pháp, các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp vẫn diễn ra và ngày càng có chiều hướng gia tăng, hoạt động buôn bán hàng cấm là một trong những hoạt động kinh doanh bất hợp pháp, hoạt động này cùng với tình hình tội phạm chung có chiều hướng ngày càng phát triển và tinh vi, khiến cho mất cân đối trên thị trường. Các hành vi buôn bán hàng cấm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì nó xâm hại đến chế độ thống nhất quản lý về hàng cấm của Nhà nước và ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế của đất nước. Hơn nữa vì lợi nhuận mang lại từ việc buôn bán hàng cấm rất lớn mà nhiều người, nhiều cá nhân tổ chức hám lợi đã bất chấp những quy định của pháp luật thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, vi phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, xâm hại đến nền kinh tế quốc dân. Do đó, cần hiểu rõ như thế nào là “tội mua bán hàng cấm” để xử lý, áp dụng chế tài thỏa đáng nhằm đạt được mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Từ điển tiếng Việt có đề cập đến khái niệm hoặc giải thích các cụm từ “buôn bán hàng cấm”, từ đó có 8 thể hiểu: Buôn bán hàng cấm là việc mua đi, bán lại hàng cấm nhằm mục đích kiếm lời. Để quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh những chính sách nhằm phát triển kinh tế thì pháp luật hình sự về các tội phạm xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế cũng phải ra đời và phù hợp, linh hoạt, chặt chẽ hơn. Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định tội buôn bán hàng cấm là một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế quy định tại Chương XVIII.
Các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Điều 190 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm như sau: “1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Hàng phạm pháp là hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sơ chế, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối; b) Hàng phạm pháp khác trị giá từ 100.000 đồng đến dưới 300.000 đồng; c) Thu lợi bất chính từ 50.000 đồng đến dưới 200.000 đồng; d) Hàng phạm pháp khác trị giá dưới 100.000 đồng hoặc thu lợi bất chính dưới 50.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; 9 đ) Buôn bán hàng cấm qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại trị giá từ 50.000 đồng đến dưới 100.000 đồng, thu lợi bất chính từ 20.000 đồng đến dưới 50. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; d) Có tính chất chuyên nghiệp; đ) Hàng phạm pháp trị giá từ 300.000 đồng đến dưới 500.000 đồng; e) Thu lợi bất chính từ 200.000 đồng đến dưới 500.000 đồng; g) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại; h) Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm: a) Hàng phạm pháp trị giá 500.000 đồng trở lên; b) Thu lợi bất chính 500.000 đồng trở lên. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: 10 a) Pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000 đồng; b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000 đồng; c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.