Các quyền dân sự và chính trị của con người, của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 đã và đang được triển khai và bảo đảm thực hiện trong thực tế cả về mặt pháp lý lẫn hoạt động thực tiễn. Sau đây sẽ xem xét thực trạng pháp luật về việc thực hiện các quyền trên ở Việt Nam hiện nay. về quyền tự quyết dân tộc Quyền tự quyết dân tộc được khang định trong nhiều điều của Hiến pháp, chang hạn, Điều 1 Hiến pháp năm 2013 khang định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Quyền tự quyết dân tộc không chỉ được ghi nhận mà còn được bảo đảm thực hiện bằng nhiều quy định khác trong Hiến pháp cũng như trong các đạo luật khác.
Để bảo đảm quyên tự quyết dân tộc, Hiến pháp đã quy định công dân có nghĩa vu trung thành với Tổ quốc, coi phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất; coi việc bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân, đồng thời đòi hỏi công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân trong Hiến pháp đã được cụ thé hóa trong các luật nghĩa vụ quân sự mà hiện hành là Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 1/1/2016 trong đó xác định rõ nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân; công dân trong độ tuôi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật. Quyên tự quyết dân tộc của Việt Nam không chỉ được bảo đảm về mặt pháp lý mà còn được bao đảm bang cả chính thực tiễn lich sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta từ ngàn đời nay và ngày càng mạnh mẽ, rõ rệt hơn, đặc biệt là từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời vào ngày 2/9/1945 Từ đó tới nay, quyền tự quyết dân tộc đã được bảo vệ bằng chính máu xưoag của nhiều thế hệ người Việt Nam và bằng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Nhờ vậy, chúng ta đã đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của các dé quốc Pháp, Mỹ và bè lũ phản động ở Trung Quốc.
Tuy nhiên, trong điều kiệr hiện tại, việc bảo vệ quyền tự quyết dân tộc của nước ta đang đứng trước rửững thách thức lớn và đang gặp phải những cản trở nhất định trong việc bảo vệ chủ quyên biên đảo ở Biên Đông. Về quyền sống Tại Hiến pháp năm 2013, quyền sống được ghi nhận với tư cách: là quyền con người với cách diễn đạt khá trung thành với Công ước, đó là “Moi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.
Việc bảo đảm thực hiện và bảo vệ quyền sống của con người được quy định tại một số điều khác của Hiến pháp và một số đạo luật khác như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự. Chang hạn, Bộ luật dân sự hiện hành đã dành Điều 33 dé quy định về quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể trong đó nêu rõ cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật. Để bảo vệ quyền sống của mọi người, Bộ luật quy định khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tô chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Cũng liên quan tới việc bảo vệ quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể của con người, Bộ luật này còn quy định: việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thê người; thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thầm quyên thực hiện. Trường hợp người được thử nghiệm là người chưa thành niên, người mat năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là bệnh nhân bắt tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người nêu trên thì phải có quyết định của người có thâm quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2015 cũng quy định mọi người có quyên được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ; mọi hành vi xâm phạm trai pháp luật tính mạng, sức khoẻ của cá nhân đều bị xử lý theo pháp luật (Điều 11). 236 Theo Bộ luật hình sự thì những hành vi xâm phạm tới quyên sông của con người một cách trái pháp luật đều có thể bị coi là tội phạm như tội giết người, tội cô ý gây thương tích va sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.
Để bảo vệ tính mạng. sức khỏe của mọi người một cách chặt chẽ, Bộ luật hình sự nước ta đã dành tơi 18 điều để quy định việc trừng phạt những người có hành vi gây ton hại cho tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Việc tước đoạt mạng sống của người phạm tội, tức là tước đoạt quyền sống của con người một cách hợp pháp cũng phải tuân thủ những điều kiện rất nghiêm ngặt do pháp luật quy định. Trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta déu có những quy định cụ thé về việc áp dụng và thi hành hình phạt tử hình.
Chang hạn, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Hội đồng xết xử sơ thâm gm một Tham phán và hai Hội thâm, nhưng đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thâm phán và ba Hội thâm. Như vậy, đối với việc quyết định hình phạt tử hình, tức là hình phạt tước đoạt mạng sống của con người thì Hội đồng xét xử phải đông hơn, gồm nhiều than phán và hội thâm hơn dé bảo đảm cho việc xét xử vụ án được cần thận, chín xác hơn. Ngat cả khi hình phạt tử hình đã được quyết định thì trước khi thi hành án tử hình, bản án phải được xem xét theo thủ tục rất chặt chẽ do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định. Đó là, sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao va ban án phải được gửi ngay cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Sau thi đã xem xét hồ sơ vụ án dé quyết định kháng nghị hoặc quyết định không khing nghị giám đốc thâm hoặc tái thấm, Tòa án nhân dân tối cao phải chuyền hà sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 01 tháng kể ừ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao. Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kién sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không khing nghị giám đốc thẩm hoặc tái thâm. Trong thời han 07 ngày kể từ ngày bảnán có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tch nước.
Banan tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục 237 giám đốc thâm hoặc tái thâm và người bị kết án không có đơn xin ân giám lên Chủ tịch nước. Trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thâm hoặc tái thầm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thâm Tòa án nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình thì Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình. Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xIn ân giảm. Khi có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật hình sự thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thâm không ra quyết định thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án.
Mặc dù hiện tại, Việt Nam chưa bãi bỏ hình phạt tử hình, song piam vi quy định và áp dụng hình phạt tử hình đã thu hẹp hơn nhiều so với trước. Số lượng các tội phạm bị quy định hình phat tử hình trong Bộ luật hình ar năm 2015 đã ít hơn nhiều so với trong Bộ luật hình sự năm 1999. Tại Bộ luàt hình sự năm 2015, hình phạt tử hình được quy định tại Điều 40 với nội dum: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt rghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tộ phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.