mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình thƣ viện tại đơn vị xuất bản và phát hành sách Chƣơng 2: Thiết kế mô hình thƣ viện tại đơn vị xuất bản và phát hành sách Oopsy Chƣơng 3: Ứng dụng mô hình thƣ viện tại đơn vị xuất bản và phát hành sách Oopsy Chƣơng 4: Nhận xét thực trạng ứng dụng và đề xuất mô hình thƣ viện tại đơn vị xuất bản và phát hành sách Oopsy 14 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH THƢ VIỆN TẠI ĐƠN VỊ XUẤT BẢN VÀ PHÁT HÀNH SÁCH 1.1 Khái niệm xây dựng mô hình thư viện Khái niệm mô hình Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, mô hình là “vật cùng hình dạng nhưng được làm thu nhỏ lại nhiều lần, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để tiện trình bày, nghiên cứu; hình thức diễn đạt hết sức gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào đó để nghiên cứu đối tượng ấy” [22, tr. Theo Từ điển Oxford online [36], từ mô hình (model) có các nghĩa liên quan đến sự vật, sự việc cần được cân nhắc ở đây: “Hình đại diện ba chiều của người hoặc vật hoặc cấu trúc đưa ra, tiêu biểu là ở tỉ lệ nhỏ hơn so với nguyên bản; một thứ được sử dụng như ví dụ để làm theo hoặc bắt chước”. Theo Từ điển Cambridge online [37], từ mô hình (model - danh từ) có nghĩa liên quan đến sự vật, sự việc mà đề tài muốn tham khảo: “Cái gì đó mà bản sao có thể dựa vào vì nó là một ví dụ vô cùng tốt thuộc kiểu mẫu của nó; thứ gì đó đại diện cho một thứ khác, hoặc là đối tượng vật chất thường nhỏ hơn đối tượng thực, hoặc là mô tả đơn giản có thể được sử dụng trong sự cân nhắc”. Từ các khái niệm trên, có thể thấy rằng mô hình thường được hiểu theo hai nghĩa chính.
Nghĩa đầu tiên của mô hình là vật thể, có hình dạng rõ ràng, sao chép vật gốc ở quy mô nhỏ hơn. Vật gốc cũng là vật thể hữu hình, có sẵn. Nghĩa đầu tiên của mô hình này rất thích hợp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kĩ thuật, đối tượng và sản phẩm mô hình hoá đều là các vật mô phỏng nhìn thấy, sờ thấy được trên thực tế. 15 Mặt khác, nghĩa thứ hai của mô hình, tương ứng với nghĩa còn lại của khái niệm đề cập đến hình thức diễn đạt nói chung, thể hiện sự linh hoạt.
Đối tượng được mô hình hóa với dạng thức này cũng rất rộng, không nhất định phải là vật cụ thể nào. Yêu cầu của dạng thức mô hình này là diễn đạt hết sức gọn các đặc trưng chủ yếu của đối tượng, theo một phương tiện nào đó tuỳ từng trường hợp, với mục đích nghiên cứu. Có thể nói nghĩa thứ hai của mô hình rất thích hợp trong các lĩnh vực nghiên cứu không thuộc khoa học kĩ thuật, đối tượng và sản phẩm mô hình hoá không phải các vật cụ thể có thể dễ dàng nhìn thấy, sờ thấy được trên thực tế. Đề tài sử dụng nghĩa thứ hai này của mô hình.
Tóm lại, mô hình có đặc điểm: Diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào đó để nghiên cứu đối tượng ấy, được sử dụng như ví dụ để làm theo hoặc bắt chước, mang tính đại diện và có thể được sử dụng trong sự cân nhắc. Khái niệm về mô hình thư viện Thư viện đã ra đời từ rất lâu qua trường kì lịch sử. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thư viện trên thế giới. “Tuy nhiên, trong các định nghĩa trên, định nghĩa của UNESCO được các nhà thư viện học trên thế giới đánh giá là định nghĩa đầy đủ nhất về thư viện vì định nghĩa này nêu lên được những thành phần cấu tạo nên thư viện và các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của nó” [19, tr.
Về cơ bản, thành phần cấu tạo nên thư viện và các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của nó không thay đổi từ trước tới nay. UNESCO định nghĩa như sau: “Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ hoạ, nghe - nhìn, và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí” [19, tr. 16 Căn cứ vào định nghĩa của UNESCO, thư viện cần đảm bảo bốn yếu tố cấu thành: bộ sưu tập (vốn tài liệu), nhân viên phục vụ (nhân lực), bạn đọc (người dùng), cơ sở vật chất - kỹ thuật. Thư viện cũng cần đảm bảo bốn chức năng: văn hoá, giáo dục, thông tin, giải trí.
Mỗi loại hình thư viện, tuỳ vào đặc thù, lại tập trung vào chức năng nào hơn với những nhiệm vụ cụ thể. Như vậy, mô hình thư viện là hình thức diễn đạt hết sức gọn các đặc trưng chủ yếu của thư viện theo một phương tiện nào đó để nghiên cứu thư viện ấy. Một thư viện có nhiều phương thức biểu hiện khác nhau, nhưng phải giữ được đặc trưng mang tính bản chất. Các đặc trưng chủ yếu của thư viện gồm: - Bốn yếu tố cấu thành: vốn tài liệu, nhân lực, người dùng, cơ sở vật chất - kỹ thuật.
- Phản ánh được bốn chức năng của thư viện: văn hoá, giáo dục, thông tin, giải trí. Khái niệm xây dựng Thuật ngữ xây dựng được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày. Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học đưa ra các nghĩa phổ biến (động từ): “Làm nên công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định; làm cho hình thành một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá theo một phương hướng nhất định; tạo ra, sáng tạo ra cái có giá trị tinh thần, có ý nghĩa trừu tượng” [22, tr. Nghĩa thứ nhất của khái niệm trên (làm nên công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định) dành riêng cho chuyên ngành kiến trúc.
Nghĩa thứ hai (làm cho hình thành một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá theo một phương hướng nhất định) rộng hơn, kết quả rõ ràng, có phương hướng ngay từ đầu. Còn nghĩa thứ ba (tạo ra, sáng tạo ra cái có giá trị tinh thần, có ý nghĩa trừu tượng) thiên về giá trị tinh thần, trừu tượng. 17 Đại từ điển tiếng Việt đưa ra khái niệm xây dựng (động từ) như sau: “Làm nên, gây dựng nên; tạo ra cái có giá trị tinh thần, có nội dung nào đó” [21, tr. Khái niệm trên đưa ra hai nghĩa chính.
Nghĩa đầu tiên (làm nên, gây dựng nên) khá rộng, có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau, thể hiện quá trình hành động để ra kết quả. Nghĩa còn lại (tạo ra cái có giá trị tinh thần, có nội dung nào đó) chỉ giới hạn ở lĩnh vực tinh thần. Đề tài sử dụng nghĩa đầu tiên vì mô hình thư viện không chỉ nằm trong lĩnh vực tinh thần và cần nhấn mạnh tới quá trình tạo ra được kết quả cuối cùng. Thông qua các khái niệm cơ bản đó, đề tài xác định thuật ngữ xây dựng (động từ) như sau: Gây dựng nên, làm cho hình thành một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá theo một phương hướng nhất định.
Tóm lại, luận văn hiểu việc xây dựng mô hình thư viện là việc tạo ra một chỉnh thể mô hình thư viện theo một phương hướng nhất định.2 Tổ chức và hoạt động trong mô hình thư viện Tổ chức thư viện Để tạo ra một chỉnh thể mô hình thư viện theo một phương hướng nhất định như đã đề cập ở phần khái niệm xây dựng mô hình thư viện, cần xác định cách thức tổ chức. Đây là vấn đề nền tảng góp phần hình thành bất kì một thư viện nào. Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh, trong cuốn “Tổ chức và quản lý các cơ quan Thông tin - Thư viện hiện đại” mới được tái bản năm 2019, “cơ quan Thông tin - Thư viện (với tư cách là một tổ chức) cấu thành từ các bộ phận: Cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất” [15, tr. Như vậy, muốn xây dựng tổ chức thư viện, phải xem xét ba bộ phận cấu thành trên.
Tổ chức vừa có nghĩa danh từ, vừa có nghĩa động từ. Ở đây, nhằm xây dựng tổ chức thư viện với ba bộ phận cấu thành đã nêu, cần làm rõ hơn nghĩa 18 động từ. Khái niệm tổ chức thường gắn liền với quản lý đối với thư viện. Trong giáo trình “Quản lý thư viện và trung tâm thông tin”, các tác giả đã làm rõ hơn những việc phải làm khi tổ chức thư viện: “tổ chức cơ quan thư viện - thông tin là nhằm thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp cho thư viện đó tồn tại và phát triển.
Cụ thể tổ chức - là phải xây dựng một hệ thống các phòng ban, quy định nhiệm vụ, chức năng của từng phòng ban, đồng thời tiến hành tuyển chọn, xếp đặt cán bộ đúng khả năng chuyên môn. Mua sắm các trang thiết bị thích hợp, kinh tế nhất” [6, tr. Khái niệm trên nhấn mạnh đến cơ cấu tổ chức, bộ phận then chốt trong tổ chức thư viện. Ngoài ra, tổ chức thư viện gắn bó chặt chẽ với hoạt động thư viện.
Mối quan hệ này được thể hiện qua cách hiểu nội dung tổ chức cơ quan Thông tin - Thư viện: “quy định cơ cấu của cơ quan Thông tin - Thư viện, sắp xếp, bố trí lao động của nhân lực Thông tin – Thư viện và tổ chức hoạt động chuyên môn của cơ quan Thông tin – Thư viện” [15, tr. Cách hiểu này cho thấy, thư viện muốn hoạt động tốt, trước hết cần được tổ chức tốt. Tổ chức thư viện có quyết định trực tiếp tới hai yếu tố cơ bản, nội tại của thư viện là nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật. Xác định cách tổ chức hợp lý, mô hình thư viện mới có thể tồn tại và đạt hiệu quả cao.
Hoạt động thư viện Xây dựng mô hình thư viện, không thể không nhắc tới hoạt động thư viện. Sự tồn tại, vận hành và phát triển của thư viện đểu bộc lộ qua các hoạt động của thư viện từ khâu thiết kế mô hình cho đến khi áp dụng vào thực tiễn. Hoạt động thư viện thường được gắn với chu trình liên quan tới tài liệu, hướng tới phục vụ người dùng.