CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ thẩm phán cấp huyện ở Thành phố Hà Nội 1. Một số khái niệm 1. Định nghĩa Thẩm phán, Thẩm phán cấp huyện Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án.
Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh án Toà án Nhân dân tối cao. Thẩm phán Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ượng, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thẩm phán Toà án quân sự các cấp bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực. Thẩm phán là người thực hiện quyền xét xử chính tại một phiên tòa (Thẩm phán cấp huyện), có thể là chủ tọa một mình hoặc là một thành phần trong hội đồng xét xử gồm nhiều thẩm phán. Chỉ có Thẩm phán mới có quyền nhân danh Nhà nước tuyên án khi xét xử một vụ án cụ thể.
Nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm. 13 Thẩm phán làm nhiệm vụ theo sự phân công của chánh án. Khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào và phải chịu trách nhiệm về công việc của mình. Theo quy định tại Điều 66 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, các ngạch Thẩm phán bao gồm: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp.
Thực tế Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ có Thẩm phán sơ cấp và một số ít thẩm phán trung cấp ( số lượng thẩm phán Trung cấp tại cấp huyện thì ít, đa số là các lãnh đạo của các Tòa án nhân dân cấp huyện đã trúng tuyển kì thi nâng ngạch Thẩm phán trung cấp) và một số được Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội biệt phái trở về giải quyết án tại cấp huyện. Căn cứ theo Luật tổ thức Tòa án quy định: “Điều 67. Tiêu chuẩn Thẩm phán 1. Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.
Có trình độ cử nhân luật trở lên. Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử. Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật. Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp 1. Người có đủ tiêu chuẩn tại Điều 67 của Luật này và có đủ các điều kiện sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp; nếu là sỹ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp thuộc Tòa án quân sự: 14 a) Có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên; b) Có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của luật tố tụng; c) Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp 2. Người có đủ tiêu chuẩn tại Điều 67 của Luật này và có đủ các điều kiện sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp; nếu là sỹ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án quân sự. a) Đã là Thẩm phán sơ cấp từ đủ 05 năm trở lên; b) Có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của luật tố tụng; c) Đã trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch Thẩm phán trung cấp.
Trường hợp do nhu cầu cán bộ của Tòa án nhân dân, người chưa là Thẩm phán sơ cấp có đủ tiêu chuẩn, điều kiện sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp; nếu là sỹ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án quân sự: a) Có đủ tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 67 của Luật này; b) Đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 13 năm trở lên; c) Có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của luật tố tụng; d) Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn vào ngạch Thẩm phán trung cấp” 1. Khái niệm chất lượng đội ngũ Thẩm phán cấp huyện Chất lượng là một khái niệm quen thuộc được dùng phổ biến trong đời sống. Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với các sự vật khác. 15 Trong lĩnh vực kinh tế, khái niệm chất lượng thường được dùng trong việc kiểm tra, đánh giá sản phẩm, hàng hóa.
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO (International Organization for stadardization) đưa ra định nghĩa: chất lượng là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Mặc dù có những khái niệm khác nhau về chất lượng, ở các góc độ tiếp cận, hoặc lĩnh vực khác nhau, nhưng các quan điểm trên đều có điểm chung: chất lượng của sự vật là tổng hợp các thuộc tính bản chất, những giá trị đặc trưng của sự vật, qui định sự tồn tại và mức độ đáp ứng của sự vật so với yêu cầu của con người, của xã hội. Từ những chỉ dẫn trên có thể quan niệm: chất lượng ĐNTP của Tòa án nhân dân cấp huyện là tổng hợp những giá trị, những thuộc tính đặc trưng của các yếu tố số lượng, cơ cấu, phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp tác phong công tác, được biểu hiện ở kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mỗi Thẩm phán cấp huyện và cả các Tòa án cấp huyện trên địa bàn tỉnh, thành phố. Chất lượng đội ngũ Thẩm phán cấp huyện phải đi đôi với đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán Quan niệm về đạo đức: Đạo đức, theo từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản văn hoá thông tin năm 2001, là: Đạo lý và đức hạnh, lẽ tốt nên theo.
Theo từ điển tiếng việt - Viện ngôn ngữ học - NXB Đà Nẵng năm 2005 thì: Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có Mỗi một xã hội có quan niệm của mình về đạo đức. Đạo đức vừa mang tính xã hội vừa mang tính giai cấp sâu sắc, bên cạnh đó đạo đức còn bị chi phối bởi tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc. Trong xã hội, con người luôn có 16 nhu cầu hướng tới các giá trị đạo đức, hướng tới cái thiện, nhân đạo, lẽ công bằng.
Để có được những phẩm chất đạo đức tốt, người thẩm phán phải có một quá trình tu dưỡng, rèn luyện vất vả. Trong đời sống xã hội, mọi hành vi của con người phải được đánh giá từ phương diện đạo đức và như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Người cách mạng phải có đạo đức như cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo."Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, trong việc đánh giá, xây dựng đội ngũ cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi "Đạo đức" là cái "Gốc", là nền tảng của người cán bộ cách mạng, nếu không có đạo đức thì dù tài mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đối với cán bộ ngành Tư pháp người căn dặn: "Các chú hiện nay làm công tác Tư pháp, công tác xử án. Vậy muốn làm tốt công tác ấy thì làm thế nào? Trước hết phải đề cao lòng yêu nước, thương đồng bào, phải căm ghét bọn thực dân xâm lược và bè lũ tay sai của chúng.
Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người, ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức, phải làm sao đóng góp vào việc làm cho nước độc lập, được tự do, hạnh phúc, nhân loại khỏi đau khổ"Bản thân pháp luật không thể tạo ra được các giá trị đạo đức. Tuy nhiên chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng góp phần loại bỏ những thói hư tật xấu, xây dựng lên những chuẩn mực đạo đức mới tiến bộ, tạo lên sự ổn định xã hội. Xu hướng hiện nay là pháp luật ngày càng ghi nhận nhiều hơn nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức truyền thống và đạo đức tiến bộ. Khi đạo đức đã xuống cấp thì pháp luật có hay đến mấy cũng trở thành vô nghĩa.
Con người trong xã hội nói chung và đối với đội ngũ cán bộ công chức hiện nay, nếu không nhận biết về các chuẩn mực đạo đức thì cũng dễ dàng vi phạm pháp luật và ngược lại sự vi phạm pháp luật, pháp luật không nghiêm là tiền đề để làm rối loạn kỷ cương đạo đức xã hội. Vì vậy, quy phạm đạo đức có vai trò làm định hướng cho nhà làm luật trong việc xác định tội phạm hoá hay 17 phi tội phạm hoá các hành vi.