ĐẶT VẤN ĐỀ Song song với sự phát triển của các ngành công nghiệp hiện đại thì nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm. Vì vậy trong suốt những năm vừa qua, nước ta đã đưa ra nhiều chính sách để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. Ngày 4/2/2016, hiệp định TPP được kí kết mang lại nhiều thuận lợi, tạo điều kiện cho nền nông nghiệp Việt Nam tiếp xúc với nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, hiện đại hóa sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong chăn nuôi, chăn nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng nhất và ngày càng có xu hướng phát triển.
Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, tổng số lợn trên cả nước năm 2016 đạt 29,08 triệu con. Tuy vậy, trong những năm gần đây, điều kiện vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về thực phẩm có chất lượng tốt ngày càng lớn. Tuy nhiên Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, điều này dẫn đến giá thành sản xuất cao, sản phẩm khó cạnh tranh. Hàng năm, Việt Nam mất chi phí lớn cho việc nhập khẩu các nguyên liệu thức ăn như ngô, đậu tương, lúa mì,…từ nước ngoài.
Theo Tổng cục Thống kê (2014), Việt Nam đã chi gần 4,9 tỉ USD (gần 110.000 tỷ đồng) để nhập khẩu TACN và nguyên liệu, cộng thêm chi phí vận chuyển, thuế,. làm cho giá thức ăn chăn nuôi khi đến với người chăn nuôi bị đội lên khá cao, giảm lợi nhuận. Trong khi đó, các nguyên liệu sẵn có như thức ăn xanh, phụ phẩm nông nghiệp chưa được sử dụng hiệu quả. Do đó cần thiết phải tìm ra nguồn thức ăn và phương pháp chế biến mới để có thể vừa đảm bảo hiệu quả về kinh tế (năng suất, hiệu quả), xã hội (chất lượng tốt) và môi trường (tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sẵn có).
Việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên tại chỗ (thức ăn xanh, phụ phẩm công nông nghiệp) có thể đảm bảo các yếu tố trên. Tuy nhiên, thức ăn xanh và phụ phẩm thường giàu xơ, có giá trị dinh dưỡng thấp, khó tiêu hóa nên sẽ không đảm bảo năng suất chăn nuôi và không thể nuôi lợn thâm canh với số lượng lớn. Chính vì vậy, để nâng cao được dinh dưỡng của các loại thức ăn xanh sử dụng cho lợn, cần có các giải pháp thích hợp để sử dụng tốt nguồn tài nguyên này. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU 1. Mục đích chung Sử dụng thức ăn xanh lên men nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn thịt, hướng tới một nền chăn nuôi hiệu quả và bền vững. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn trước và sau khi lên men. - Đánh giá được tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, năng suất và chất lượng thịt của đàn lợn thí nghiệm khi sử dụng thức ăn xanh lên men.
- Ước tính hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn bằng thức ăn xanh lên men. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Đề tài cung cấp các thông tin khoa học trong việc sử dụng thức ăn xanh lên men đến hiệu quả chăn nuôi lợn thịt. Đề tài cũng góp phần đưa ra hướng nghiên cứu mới về dinh dưỡng trong chăn nuôi lợn nhằm đảm bảo hiệu quả chăn nuôi và đưa ra dòng sản phẩm chất lượng cao, phù hợp thị hiếu. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẶC ĐIỂM TIÊU HÓA CỦA LỢN 2. Quá trình tiêu hóa của lợn - Miệng: thức ăn ở miệng được cắt nghiền nhỏ bởi động tác nhai và thức ăn trộn với nước bọt làm trơn để được nuốt trôi xuống dạ dày. Nước bọt chứa phần lớn là nước (tới 99%) trong đó chứa enzym amylase có tác dụng tiêu hoá tinh bột, tuy nhiên thức ăn trôi xuống dạ dày rất nhanh nên việc tiêu hoá tinh bột xảy ra nhanh ở miệng, thực quản và tiếp tục ở dạ dày khi thức ăn chưa trộn với dịch dạ dày.
Độ pH của nước bọt khoảng 7,3. - Dạ dày: dạ dày của lợn trưởng thành có dung tích khoảng 8 lít, chức năng như là nơi dự trữ và tiêu hoá thức ăn. Thành dạ dày tiết ra dịch dạ dày chứa chủ yếu là nước với enzym pepsin và axit clohydric (HCl). Men pepsin chỉ hoạt động trong môi trường axit và dịch dạ dày có độ pH khoảng 2,0.
Pepsin giúp tiêu hoá protein và sản phẩm là polypeptit và ít axit amin. - Ruột non: ruột non có độ dài khoảng 18 - 20 mét. Thức ăn sau khi được tiêu hoá ở dạ dày chuyển xuống ruột non được trộn với dịch tiết ra từ tá tràng, gan và tụy - thức ăn chủ yếu được tiêu hoá và hấp thụ ở ruột non với sự có mặt của mật và dịch tuyến tụy. Mật được tiết ra từ gan chứa ở các túi mật và đổ vào tá tràng bằng ống dẫn mật giúp cho việc tiêu hoá mỡ.
Tuyến tụy tiết dịch tụy có chứa men trypsin giúp cho việc tiêu hoá protein, men lipase giúp cho tiêu hoá mỡ và men diastase giúp tiêu hoá carbohydrate. Ngoài ra ở phần dưới của ruột non còn tiết ra các men maltase, saccharase và lactase để tiêu hoá carbohydrate. Ruột non cũng là nơi hấp thụ các chất dinh dưỡng đã tiêu hoá được, nhờ hệ thống lông nhung trên bề mặt ruột non mà bề mặt tiếp xúc và hấp thu chất dinh dưỡng tăng lên đáng kể. - Ruột già: ruột già chỉ tiết chất nhầy không chứa men tiêu hoá.
Chỉ ở manh tràng có sự hoạt động của vi sinh vật giúp tiêu hoá carbohydrate, tạo ra các axit béo bay hơi, đồng thời vi sinh vật cũng tạo ra các vitamin K, B. Cơ chế tiêu hóa thức ăn ở lợn Tiêu hóa là quá trình phân giải các chất dinh dưỡng trong thức ăn từ dạng phức tạp đến dạng đơn giản để cơ thể con vật có thể hấp thu được. Lợn là loài ăn tạp, nó 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có thể tiêu hóa được nhiều loại thức ăn, nhiều dạng thức ăn. Bộ máy tiêu hóa của lợn gồm 3 bộ phận chính là miệng, dạ dày và ruột.
Tiêu hóa ở miệng: Ở miệng có 2 hình thức tiêu hóa là tiêu hóa cơ học và tiêu hóa hóa học. + Tiêu hóa cơ học: lợn dùng răng để nhai và nghiền nát thức ăn, ở lợn trưởng thành có 44 răng, do có bộ răng hàm phát triển nên nó có thể nhai thức ăn dễ dàng. Nhưng vẫn phải chế biến thức ăn tốt để giảm năng lượng trong việc nhai thức ăn. + Tiêu hóa hóa học: ở miệng chỉ có quá trình tiêu hóa tinh bột nhưng chưa triệt để và thức ăn dừng lại ở đây không lâu.
Các loại đường Maltotrioza, Maltoza có thể hấp thu được ở miệng. Tiêu hóa ở dạ dày: dạ dày lợn thuộc loại dạ dày trung gian vì ngoài phần thượng vị, than vị, hạ vị, nó còn có thêm túi mù ở trong túi mù có 1 số loại vi sinh vật có chức năng tiêu hóa như dạ dày kép. Tiêu hóa ở dạ dày có 3 hình thức: tiêu hóa cơ học, tiêu hóa hóa học và tiêu hóa nhờ vi sinh vật. + Tiêu hóa cơ học: dạ dày có thể co bóp và nghiền nát thức ăn + Tiêu hóa hóa học: nhờ trong dịch vị có 1 số men tiêu hóa từ nước bọt xuống như men pepsin, catepsin, kimozin, lipasa.
Men pepsin là men phân giải protein khi mới tiết ra nó ở dạng không hoạt động gọi là pepsinnogen nhờ axit HCl ở dạng hoạt hóa tạo thành pepsin man này chỉ phân giải protein của thức ăn để tạo thành dạng đơn giản. Men catepsin chủ yếu phân giải protein trong sữa cho nên men này chỉ có nhiều ở lợn con. Men kimozin là men làm đông vón sữa để cho men catepsin dễ phân giải. Men lipasa là men phân giải lipit men này ở trong dạ dày có hoạt tính yếu và chưa có axit mật nên lượng lipit phân giải được ít.
Tinh bột khi vào dạ dày cũng tiêu hóa được rất ít và tinh bột sống hầu như không được phân giải ở dạ dày. + Tiêu hóa bằng vi sinh vật: quá trình phân giải chất xơ bằng vi sinh vật cũng được xảy ra ở túi mù nhưng với lượng rất ít không đáng kể. Ngoài các men tiêu hóa thì trong dạ dày quan trọng còn có HCl nếu HCl ở dạng tự do còn có nhiều tác dụng khác như: hoạt hóa men pepsinogen, làm trương nở protein để cho men pepsin dễ phân giải, duy trì độ pH của dịch vị (2,5 - 3), diệt vi khuẩn có hại trong đường tiêu hoá, kích thích tiết dịch tụy. Nó có tác dụng tốt với điều kiện nồng độ trong dịch vị thích hợp (0,35 - 4%) trong dạ dày 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng nhưng không nhiều vì các chất dinh dưỡng chưa được phân giải triệt để vì có sự tiết dịch vị ngược chiều với hấp thu.
Tiêu hóa ở ruột: + Ruột non: tiêu hóa ở ruột non là quá trình quan trọng nhất vì ở đây các chất dinh dưỡng hầu như đã được phân giải triệt để. Ruột non chủ yếu là quá trình tiêu hóa hóa học nhờ các men trong dịch tụy và dịch ruột. Ở ruột non chỉ có quá trình tiêu hóa hóa học. Quá trình hấp thu chất dinh dưỡng ở ruột non rất mạnh vì các chất dinh dưỡng đã được phân giải triệt để và ở trên màng ruột non có nhiều nhung mao cho nên hấp thu dễ dàng.
+ Ruột già: chia làm 3 phần manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ở ruột già chủ yếu là phân giải chất xơ bằng vi sinh vật và có quá trình tiêu hóa hóa học nhưng rất yếu không đáng kể. Ở manh tràng có nhiều loại vi khuẩn như vi khuẩn phân giải chất xơ, vi khuẩn lên men đường, vi khuẩn gây thối rữa protein, ở ruột già đường glucose chỉ được lên men axitlactic và axit béo bay hơi. Mỗi loại thức ăn từ khi vào miệng đến thải ra ngoài thường từ 15 - 20 h, ở ruột già có quá trình hấp thu nước và đặc biệt ở kết tràng để tạo thành khuân phân.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa thức ăn của lợn Yếu tố giống: Trong chăn nuôi lợn công nghiệp, con giống là yếu tố rất quan trọng.
Cần chọn lọc những đàn giống có thành tích sản xuất tốt như khỏe mạnh, chống bệnh tốt, tăng trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao, hiệu quả chuyển hóa thức ăn cao (FCR thấp).