MỞ ĐẦU Rươi là loài động vật không xương sống thuộc nhóm Giun nhiều tơ, phân bố ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia. Ở Việt nam gặp ở Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Khánh Hòa, Côn Đảo. Rươi sống trong hang, dưới bùn thường gặp ở vùng nước lợ, cửa sông, rạch hay đồng bằng ven biển, những nơi chịu tác động trực tiếp của chế độ thủy triều. Rươi chỉ xuất hiện vào những thời kỳ nhất định, những ngày nhất định trong năm vì chúng chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thủy triều, thời tiết, tuần trăng, nhiệt độ, độ mặn và các yếu tố sinh thái khác (Phạm Đình Trọng, 2000).
Hàng thế kỷ nay loài rươi được biết đến như là một món ăn đặc sản, bổ dưỡng của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy nhiên thời gian xuất hiện của rươi trong năm không nhiều do vậy chỉ có những người sành ăn mới có được món ăn bổ dưỡng này. Hiện nay giá thành của rươi trên thị trường nước ta rất cao (từ 450 – 500 nghìn đồng/kg), ngoài thị trường tiêu thụ trong nước, phần lớn rươi còn được các lái buôn vận chuyển bán sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái (Báo Quảng Ninh, 2011). Ngoài giá trị chính của rươi là làm thực phẩm, rươi còn được sử dụng làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi vỗ tôm sú bố mẹ và tôm thẻ chân trắng. Các cơ sở sản xuất giống hiện nay đều sử dụng rươi làm thức ăn chính cho nuôi vỗ, vì sau khi sử dụng, tỷ lệ tôm thành thục cao, chất lượng trứng tốt (Palmer, 2014).
Ngoài ra rươi còn có vai trò quan trọng trong việc chuyển hoá các chất mùn bã hữu cơ và xác động vật chết trong chu trình chu chuyển vật chất của hệ sinh thái vùng triều, xử lý chất thải hữu cơ, tạo nên độ phì nhiêu, tơi xốp và thông thoáng cho các vùng đất ngập nước (Trần Thái Bái, 1970). Chính nhờ khả năng tự làm sạch thuỷ vực nên rươi còn được một số các nhà khoa học xem như là các sinh vật chỉ thị mức ô nhiễm môi trường bằng cách xác định mật độ quần thể, sản lượng và tần xuất xuất hiện (Klawe and Dickie, 1957). Sản lượng rươi đánh bắt được ở ngoài tự nhiên hiện nay là rất ít (Nguyễn Văn Khang, 1991).Một số đầm ở các bãi triều cửa sông đã có những biện pháp thu giống ngoài tự nhiên theo con nước thuỷ triều, tạo điều kiện thuận lợi cho rươi sinh trưởng và phát triển trong đầm và thu hoạch với năng suất cao gấp nhiều lần ngoài tự nhiên. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là đối tượng đang được khai thác hoàn toàn từ tự nhiên, phụ thuộc vào mùa vụ nên năng suất và sản lượng còn hạn chế.
Để chủ động nguồn giống phục vụ nghề nuôi và bảo vệ nguồn lợi thì việc nghiên cứu sản xuất giống rươi là rất cấp thiết, giúp người nuôi chủ động con giống hiện đang phụ thuộc vào tự nhiên như hiện nay. Do vậy đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865) tại Hải Phòng” cần được thực hiện. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống rươi trong điều kiện nhân tạo nhằm chủ động nguồn giống để phát triển nuôi và góp phần bảo vệ nguồn lợi rươi. - Xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo rươi từ giai đoạn tuyển chọn rươi bố mẹ, ghép sinh sản và ương ấu trùng trôi nổi.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI - Kết quả của luận văn là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống và ương rươi, bổ sung đối tượng nuôi mới trong nghề nuôi trồng thủy sản. - Kết quả của luận văn giúp nâng cao tỉ lệ sống của rươi tạo ra con giống chất lượng tốt phục vụ cho nghề nuôi, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế thuỷ sản và bảo vệ môi trường sinh thái theo hướng hiệu quả, bền vững. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI Trên thế giới lớp giun nhiều tơ có phân bố rất rộng và đã có nhiều công trình nghiên cứu, như tác giả Michael Mazurkiewicz (1975) có công trình nghiên cứu về sự phát triển của ấu trùng và sinh cảnh sống của của loài giun nhiều tơ Laeonereis culveri (Webster) thuộc họ Nereidae ở vùng cửa sông thuộc bờ biển Atlantic, chúng có cơ thể dài, mỏng và có nhiều đốt, sống trong hang, dưới bùn, về dinh dưỡng chúng sử dụng mùn bã hữu cơ làm thức ăn, thời gian sinh sản của chúng chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều, sự biến đổi thời tiết, mùa vụ và chu kỳ trăng, chúng tham gia sinh sản trong 3 ngày vào cuối tháng của tháng 10 và tháng 11 và chỉ sinh sản một lần duy nhất trong đời. Thời kỳ sinh sản khi có sự biến đổi về các yếu tố sinh thái và môi trường như: nhiệt độ, thời tiết và tuần trăng chúng từ dưới đáy bơi lên trên mặt nước để sinh sản, sau khi sinh sản chúng đều bị chết, xác của chúng làm mồi cho các loài tôm cá sinh sống ở gần đó, vào thời kỳ sinh sản chúng tham gia với số lượng cá thể rất đông, đây cũng là đặc tính sinh sản chung của lớp giun nhiều tơ. Khi sinh sản quần đàn như vậy sẽ làm tăng khả năng thụ tinh cho trứng giúp cho chúng nhanh chóng khôi phục và tái tạo lại quần đàn đã bị chết. Nắm bắt được quy luật sinh sản của rươi, vào thời điểm rươi tham gia sinh sản, chúng được người dân khai thác về sử dụng làm thực phẩm, đây là món ăn ưa thích của những người dân địa phương, họ đã sản xuất giống loài này để cung ứng cho các hộ nuôi làm thực phẩm và sử dụng làm mồi câu cá giải trí.
Theo một nghiên cứu khác của hai tác giả Bartels and Zeeck (1990) về loài Hediste diversicolortại bãi triều Jadebusen thuộc bờ biển phía Bắc nước Anh, theo tác giả ngoài tự nhiên rươi sinh sản vào đầu mùa xuân với nhiệt độ trung bình 160C, chúng xuất hiện vào thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 theo chu kỳ tuần trăng của các tháng, vào thời kỳ sinh sản rất dễ phân biệt đực cái: Con cái có màu xanh nhạt hay màu vàng nâu, con đực có mầu sẫm, vào thời kỳ sinh sản rươi xuất hiện đồng thời với số lượng cá thể rất đông vào tháng hai, tháng ba và xuất hiện rải rác vào tháng tư và tháng năm.Qua nghiên cứu so sánh nhiệt độ trong mùa sinh sản của rươi tác giả đã kết luận rằng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngưỡng nhiệt độ và thời gian sinh trưởng là yếu tố quyết định đến quá trình sinh sản quần thể của chúng. Theo một nghiên cứu khác của Adriaan Dorresteijn and Albrecht Fischer (2004) đã có công trình nghiên cứu về loài giun nhiều tơ Platynereis dumeriliithuộc họ Nereidae đã cho chúng sinh sản nhân tạo trong phòng thí nghiệm ở môi trường nước biển có độ mặn trên 20‰, ở nhiệt độ 180C kết quả thu được: Trứng thụ tinh sau 15 phút và quá trình phát triển của phôi từ 2-64 tế bào trong khoảng thời gian 1,5 – 8 giờ, giai đoạn phôi vị từ 8-24 giờ, sau 48 giờ hình thành phôi hình cầu có gai cứng (Phôi luân cầu Trochophora) chiều dài 0,15mm và sau 96 giờ biến thái thành ấu trùng 3 tia cứng (Metatrochophora) có chiều dài 0,27mm, giai đoạn này ấu trùng có thể bơi tự do. Trong các tài liệu trên thế giới đã biết hiện nay qua tài liệu của Gravier and Dantan (1932) đã có công bố: “Loài rươi đã được tác giả Quatrefages mô tả lần đầu tiên vào năm 1865 như một loài giun nhiều tơ sống ở nước lợ với cái tên Nereis heterochaeta”, tác giả đã dựa trên mẫu vật thu được từ đảo Java của Indonexia, tiếp sau đó loài rươi này lại được Grube (1867) mô tả với tên gọi khác Tylorrhynchus chinensis với một mẫu vật duy nhất thu được tại Thượng Hải (Trung Quốc). Osawa (1901) có nói đến một loài giun nhiều tơ thuộc họ Nereidae sống trong nước ngọt và nước mặn vùng Tokyo (Nhật Bản) mà được tác giả gọi tên là Palolo japonais (loài Rươi Nhật Bản) và loài này sau đó được Izuka (1903) nghiên cứu sâu hơn, song tác giả lại đặt nhầm loài này vào giống Ceratocephale với tên loài là Ceratocephaleosawai.
Phải tới năm 1914 với công trình nghiên cứu của tác giả Ramsay (1914) thì các tên loài Ceratocephaleosawai (Izuka), Tylorrhynchus chinensis (Grube) mới được coi là tên động vật đồng nhất (Synonyme) với loài Rươi Nereis heterochaeta (Quatrefages) vàvới loài Tylorrhynchus heterochaetus (Quatrefages) đã được tác giả này mô tả năm 1865. Về phân bố, trên thế giới cho tới nay các công trình nghiên cứu của Quatrefages(1865), Osawa (1901), Grube (1867), Izuka (1903, 1905), Gravier and Dantan (1932) cho thấy loài Rươi Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages (1865) 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ phân bố ở vùng nước lợ và nước ngọt các vùng ven biển phía đông châu Á, từ nước Nga (Viễn Đông), Nhật Bản (Tokyo), Trung Quốc (Quảng Đông) và Indonexia (đảo Java). Theo tác giả Koya Yasunori et al. (2003) đã tiến hành: "Thụ tinh nhân tạovà theo dõi quan sát quá trình phát triển của loài rươiTylorrhynchus heterochaetus”.Ông đã có công bố rằng loài rươi này thường được gọi là Palolo sống ở trong bùn của bãi triều gần cửa sông Ibi, Mie Prefecture Nhật bản, vào mùa sinh sản, cơ thể của chúng chứa đầy trứng và tinh dịch, trong thời gian 3 ngày sau kỳ trăng sớm và trăng tròn của tháng 11 hàng năm, phần sau cơ thể rươi tách ra và bơi lên trên mặt nước để đẻ trứng vào ban đêm.
Ông đã tiến hành phương pháp thụ tinh nhân tạo và quan sát sự phát triển của phôi và ấu trùng. Ở nhiệt độ từ 22- 30 0C đã cho tỷ lệ thụ tinh đạt 80,5%. Sự phân chia tế bào lần một trong vòng hai giờ sau khi trứng được thụ tinh và sự phân chia tế bào này theo dạng xoắn. Túi phôi trở thành ấu trùng và bắt đầu bơi khi cơ thể xuất hiện lông mao trong vòng 24 giờ, sau khi thụ tinh ba ngày trứng nở, phôi phát triển thành ấu trùng trong vòng 5 ngày.
Theo công bố của Zazili et al. (2005) đã nghiên cứu ba loài giun nhiều tơ Tylorrhynchus osawai, Hediste diadroma và loài H.japonica sinh sống vùng cửa sông Omuta-gawa Nhật Bản, ba loài này thường sinh sản vào ban đêm lúc triều cường, trong suốt mùa xuân từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, vào mùa sinh sản chúng xuất hiện với bầy đàn lớn và sinh sản quần thể, tác giả cũng có nhận định rằng về tập tính sống và hoạt động sinh sản của ba loài giun nhiều tơ này là như nhau.