Phần mở đầu 1. Cơ sở hình thành luận văn 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Câu hỏi nghiên cứu 1.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu 1. Ý nghĩa nghiên cứu • Chương II: Tổng quan tài liệu 2. Lịch sử nghiên cứu 2.
Bọ mắt to 2. Giới thiệu chung 2. Các nghiên cứu về loài bọ mắt to 2. Khả năng tiêu diệt sâu hại đã được nghiên cứu 5 2.
Một số loài sâu hại bọ mắt to có thể tiêu diệt 2. Phản ứng chức năng và phản ứng số lượng 2. Phản ứng chức năng 2. Phản ứng số lượng 2.
Ý nghĩa sinh học của hoa đối với thiên địch 2. Đoạn gen COI • Chương III: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 3.Phương pháp và thiết kế nghiên cứu 3. Thí nghiệm 3 • Chương IV: Kết quả và thảo luận 4.Thí nghiệm 3 • Chương V: Kết luận • Tài liệu tham khảo • Phụ lục • Danh mục các công trình của tác giả 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Lịch sử nghiên cứu Tại Việt Nam bọ mắt to đã được nghiên cứu rất nhiều, về đặc điểm hình thái của tác giả Trần Thị Nga Em (2012) đã cho thấy được sự khác nhau giữ ấu trùng qua các lần lột xác và thành trùng của bọ mắt to Geocoris sp.
Bên cạnh đó tác giả còn cho thấy được khả năng tiêu diệt con mồi của bọ mắt to Geocoris sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm. Về việc nhân nuôi kết hợp các nguồn thức ăn, Phan Thị Tố Quyên (2017) & Nguyễn Quỳnh Phương Anh (2018) đã nghiên cứu phối hợp các nguồn thức ăn từ tự nhiên như nhộng kiến và nhộng tằm để đánh giá vòng đời cùng khả năng phát triển của bọ mắt to Geocoris spp. Năm 2019 tác giả Nguyễn Ngọc Bảo Châu và Lê Thụy Tố Như cũng đã đưa ra báo cáo về nguồn thức ăn thích hợp cho bọ mắt to Gecoris ochropterus và tiềm năng ứng dụng chúng trong phòng trừ côn trùng gây hại tại Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo Châu cùng cộng sự (2021) cũng đã chỉ ra rằng nguồn thức ăn từ nhộng kiến và nhộng tằm thích hợp cho bọ mắt to Gecoris ochropterus sinh trưởng và phát triển hiệu quả. Về phổ ăn mồi của bọ mắt to, năm 2011 tác giả Ricardo Ramirez đã đưa ra kết luận rằng bọ mắt to Geocoris spp. có phổ ăn mồi rất rộng nhưng chưa cụ thể các loài bọ mắt to có thể ăn được ngoài tự nhiên. Bọ mắt to Geocoris spp.
Sự phân bố và thành phần loài của bọ mắt to Geocoris spp. Bọ mắt to Geocoris spp. thuộc họ Geocoridae, bộ Hemiptera là loài côn trùng nhỏ có ở nhiều nơi trên thế giới. Chúng là loài có lợi vì ăn vô số côn trùng gây hại cây trồng trong nông nghiệp, …Bọ mắt to Geocoris spp.
là loài côn trùng nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu ở Florida và các nơi khác bởi lợi ích mà loài thiên địch này mang lại cho cây trồng (Mead, 2001). 7 Theo Ricardo Ramirez (2011), bọ mắt to Geocoris spp. có khoảng 25 loài được tìm thấy ở Mỹ và Canada. Song song đó, James Hagler và Nicole Sanchez (2011) cho rằng có khoảng 19 loài hiện diện ở Bắc Mỹ.
Trong đó, loài Geocoris punctipes xuất hiện khắp Florida và nhiều nơi khác như: phía tây New Jersey, miền nam Indiana, phía nam Colorado, tây nam Texas, Arizona, Califorina và Mexico. Geocoris punctipes là loài phổ biến nhất trên cây bông vải, sống trong khu vườn, bãi cỏ, cây trồng nông nghiệp. Ngoài ra loài Geocoris punctipes còn được tìm thấy trong vườn cây cảnh, vườn rau quả và trong các hệ thống nhà kính trồng dâu tây (Mead, 2001). Loài Geocoris bullatus phân bố rộng rãi tại Hoa Kỳ và Canada, có rất nhiều ở phía nam Florida, từ biên giới phía bắc đến Key West.
Loài Geocoris uliginosus phân bố rộng khắp Hoa Kỳ và miền nam Canada. Theo Mead (2001), chúng thường sống trong các bãi cỏ. Ở Việt Nam bọ mắt to được tìm thấy ở rất nhiều nơi, nhất là ở các phức hợp trồng trọt hay những nông trường lớn. Bọ mắt to được tìm thấy trên rất nhiều loại cây trồng như cây bông vải tại Ninh Thuận (Nguyễn Văn Chính, Mai Văn Hào và Trần Thị Hồng, 2018), cây thanh long tại Bình Thuận (Sở NN&PTNN Tỉnh Bình Thuận, 2017), cây chè tại tỉnh Phú Thọ (Vũ Thị Thương, Trương Xuân Lam và Nguyễn Thị Phương Liên, 2015),… 2.
Một số đặc điểm hình thái của bọ mắt to Geocoris ochropterus. Quá trình sinh trưởng và phát triển của bọ mắt to thuộc kiểu biến thái không hoàn toàn, trải qua các giai đoạn trứng đến ấu trùng và cuối cùng là thành trùng. Bọ mắt to sinh sản nhiều thế hệ trong năm trên cỏ dại, cây trồng lâu năm, bụi rậm, …. Vào mùa xuân thành trùng bắt đầu đẻ trứng trên đọt non của cây ký chủ.
Trứng nở tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ nhưng thông thường khoảng 10 ngày (Ricardo Ramirez, 2011). Trứng của bọ có màu trắng đục, khoảng vài ngày sau khi trứng được đẻ sẽ chuyển màu sang hồng nhạt và xuất hiện điểm mắt màu đỏ tươi phát triển bên trong trứng (James Hagler và Nicole Sanchez, 2011). 8 Ấu trùng có màu nâu đậm, trông giống thành trùng nhưng có kích thước nhỏ hơn và không có cánh. Ấu trùng và thành trùng hình bầu dục, có phần đầu rộng hơn so với chiều dài của nó.
Đặc trưng của loài bọ mắt to này là có đôi mắt kép to và lồi. Thành trùng có cánh và nhiều nếp gấp ở trên cánh. Những đặc điểm này có thể được nhìn thấy trên ấu trùng cũng như thành trùng nhằm phân biệt bọ mắt to với những loài bọ tương tự khác (Mead, 2001). Khả năng sử dụng bọ mắt to Geocoris spp.
trong phòng trừ sinh học Loài bọ mắt to Geocoris ochropterus được phát hiện đặt tên vào năm 1844 bởi tác giả Fieber (Kóbor, 2018). Năm 1992 Sannigrahi và Mukhopadhyay đã đi sâu nghiên cứu khả năng ăn mồi, hành vi săn mồi, thời gian sinh trưởng các pha, tỷ lệ sống… của loài Geocoris ochropterus. Các hành vi ăn của Geocoris ochropterus liên quan đến một loạt các hành động, bọ mắt to hút các chất lỏng bên trong con mồi, để lại bộ vỏ ngoài. Chúng nâng và giữ con mồi trong vòng một thời gian ngắn có thể tiết các enzym tiêu hóa qua tuyến nước bọt tiêu hóa các chất hút từ con mồi.
Theo Hagler và Cohen (1991), bọ mắt to Geocoris spp. có tiềm năng kiểm soát sinh học hiệu quả. Cả thành trùng và ấu trùng có thể ăn hàng chục con mồi mỗi ngày. Theo Bell và Whitcomb (1964), ở Arkansas thì loài Geocoris punctipes và Geocoris uliginosus là một trong những côn trùng săn mồi hiệu quả và quan trọng nhất trên bông vải từ tháng 6 đến tháng 9, bọ mắt to cũng ăn rầy mềm, trứng và ấu trùng của sâu hại bông vải.
Lingren và cộng sự (1968) đã ghi nhận được rằng ấu trùng bọ mắt to ăn trung bình 47 con nhện đỏ và thành trùng bọ ăn khoảng 83 con nhện đỏ mỗi ngày. Nghiên cứu cho thấy giai đoạn ấu trùng có thể ăn 1600 con nhện đỏ để phát triển đến khi vũ hóa thành thành trùng. Theo tác giả Ricardo Ramirez (2011), thành trùng và ấu trùng của bọ mắt to có thể ăn nhiều loại con mồi có kích thước nhỏ bao gồm rầy mềm, nhện, trứng côn trùng, ấu trùng nhỏ, sâu non, …Chúng dùng vòi chích hút đâm xuyên qua cơ thể và hút dịch cơ thể của con mồi. Đôi khi thiếu thức ăn chúng ăn những côn trùng ăn thịt khác hoặc 9 mô thực vật để tồn tại nhưng khả năng gây hại cho cây trồng không đáng kể.
Chúng mang lại lợi ích rất lớn cho những khu vườn, cây trồng nông nghiệp, cây cảnh và nhiều loài thực vật khác. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng lạm dụng thuốc trừ sâu hoặc sử dụng sai quy định do thiếu hiểu biết cũng như để đảm bảo năng suất cây trồng, … việc đó dẫn đến dư lượng của một số loại thuốc trừ sâu trên lá gây chết cho bọ (Boyd và Boethel, 1998). Trong số các loại thuốc trừ sâu trên cây bông đã tìm thấy những chất cyfluthrin, profenofos, endosulfan, oxamyl và spinosad nó có thể ảnh hưởng một ít đến quá trình sinh trưởng và phát triển của bọ mắt to, song song đó còn có những chất chlorfenapyr, malathion và fipronil gây chết bọ mắt to (Elzen và King, 1998). Một số loài gây hại có thể bị tiêu diệt bởi Geocoris ochropterus 2.
Sự phân bố và ký chủ Aphis sp. Rầy mềm là loại côn trùng chích hút nhựa cây thuộc họ Aphididae, bộ Homoptera. Đây là một trong những loại côn trùng phân bố rộng nhất và gây hại phổ biến. Hầu như chúng có mặt ở khắp nơi: châu Mỹ, châu Á, châu Phi (Nguyễn Đức Khiêm, 2005).
Rầy mềm hiện diện trên nhiều loại cây trồng bao gồm các loại cải, dưa, đậu, cà chua và những loại cây ăn trái khác (Nguyễn Đức Khiêm, 2005). Đặc điểm hình thái và sinh học của rầy mềm Rầy mềm (Aphis sp.) là một loài thuộc họ Aphididae, thường sống ký sinh trên các cây cà độc dược, bầu bí, cây họ đậu,… Rầy mềm có cơ thể khá nhỏ, có màu sắc thường thay đổi từ vàng xanh đến xanh sẫm. Con trưởng thành thường có chiều dài khoảng 1,5 mm. Rầy mềm Aphis gossypii (Glover, 1877) Thành trùng có hai dạng: không cánh và có cánh.
Thành trùng và ấu trùng rầy mềm hay xuất hiện dưới mặt lá, chúng rất thích các đọt non, chồi,… chúng thường phá hoại bằng cách hút nhựa, từ đó các phần bị chúng hút sẽ héo hoặc có những vết thâm đen, bên cạnh đó rầy mềm còn là trung gian truyền bệnh virus cho cây. Phân rầy ngoài môi trường thường sẽ bị nhiều nấm bao quanh, các nấm đen đó làm trái chậm phát triển và ảnh hường đến quá trình quang hợp của cây. Khi rầy bị thiếu thức ăn, thì các cá thể rầy có cánh sẽ bay tìm thức ăn. Còn các cá thể không có cánh thì chúng có thể bò đi xa từ lá này sang lá khác.
Trong mùa mưa thì mật độ rầy giảm. Bọ phấn trắng a. Một số đặc điểm của bọ phấn trắng Bọ phấn trắng là loài thuộc bộ Hemiptera, họ là Alyrodidae hay còn gọi là họ rệp phấn. Chúng thường có vòng đời giao động từ 32 đến 44 ngày.
Kích thước của cá thể trưởng thành nhỏ, cả chiều dài cơ thể chỉ khoảng từ 1đến 3 mm. Chúng thường có màu trắng đục, con cái thích đẻ trứng trên các lá non. 11 Trứng của chúng có hình bầu dục, đôi khi có hình quả lê, trứng có bộ phận để bám trên lá và thời gian ở pha trứng từ 8 – 31 ngày. Mỗi cá thể cái có thể đẻ đến hơn 80 trứng, số lượng ít nhiều thường sẽ thay đổi theo mùa.