Đặt vấn đề Hoa là một sản phẩm đặc biệt, vừa mang lại giá trị tinh thần lại vừa mang giá trị kinh tế cao. Hoa không chỉ làm tăng chất lƣợng cuộc sống, mà còn đem lại cho con ngƣời những cảm xúc tuyệt vời mà những quà tặng khác không có đƣợc. Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển mạnh và đã trở thành ngành thƣơng mại cao. Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các nƣớc trồng hoa trên thế giới.
Trong đó có các nƣớc trồng hoa ở châu Á. Hoa không chỉ là cội nguồn của cảm hứng sáng tạo trong thơ ca mà còn là vật liệu trang trí mang lại hƣơng thơm, sắc đẹp cho cuộc sống, giảm bớt những mệt mỏi và buồn tẻ của cuộc sống, nhƣng ngoài ý nghĩa tinh thần thì hoa hiện nay đã trở thành một mặt hàng mang lại giá trị kinh tế cao. Nhiều địa phƣơng có thế mạnh về trồng hoa đã xây dựng và hình thành vùng hoa chuyên canh lớn nhƣ Đà Lạt, Đức Trọng (Lâm Đồng), Hà Nội… Theo các chuyên gia kinh tế, doanh thu từ các vùng chuyên canh hoa rất lớn, có nơi lợi nhuận lên đến 2 tỷ đồng/ha/năm. Thái Nguyên có vị trí gần thủ đô Hà Nội và là trung tâm của vùng trung du bắc bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi nối liền các tỉnh, thành phố phát triển sớm, dân cƣ đông đúc, là nơi tập trung nhiều trƣờng đại học và các cơ quan Trung ƣơng khác, đây là thị trƣờng có nhiều tiềm năng và là đầu mối thuận lợi cho việc tiêu thụ hoa, cây cảnh.
Ngƣời dân trồng hoa tại Thái Nguyên đều có một số kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vực sản xuất hoa, cây cảnh. Việc sản xuất hoa đã khẳng định đƣợc hiệu quả kinh tế hơn hẳn so với các loại cây trồng khác trên địa bàn. Chính vì vậy thị trƣờng hoa của Thái Nguyên trong những năm qua đã có nhiều bƣớc chuyển biến nổi bật nhƣng c 2 vẫn còn chƣa đa dạng về chủng loại và cũng chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu chơi hoa của ngƣời dân. Hoa đồng tiền là một loại hoa đẹp, hình dáng, màu sắc phong phú đa dạng với đủ các loại mầu sắc khác nhau từ đỏ, cam, vàng, trắng, phấn hồng, tím… Hoa có kích thƣớc to, cánh hoa cứng nên là hoa lý tƣởng để làm bó hoa, lẵng hoa và cắm hoa nghệ thuật đƣợc ngƣời tiêu dùng rất ƣa chuộng.
Hơn nữa hoa có độ bền lâu và đặc biệt là khả năng ra hoa quanh năm, tỷ lệ hoa thƣơng phẩm cao, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc đơn giản, ít tốn công, đầu tƣ một lần có thể cho thu liên tục trong 4 đến 5 năm, hình dáng hoa cân đối, hài hòa, giá trị thẩm mỹ rất cao nên hiện nay đang là một trong 10 loại hoa tiêu thụ mạnh nhất thế giới. Vì thế diện tích trồng hoa đồng tiền ngày càng đƣợc mở rộng, lƣợng tiêu thụ và giá cả ngày một tăng. Tuy nhiên hoa đồng tiền Hà Lan là giống hoa nhập nội, mới chỉ xuất hiện trên địa bàn Thái Nguyên trong một thời gian ngắn, việc thí nghiệm bố trí các giống hoa khác nhau để tìm ra những giống phù hợp với điều kiện trồng trọt riêng của Thái Nguyên và áp dụng các kỹ thuật trong sản xuất đặc biệt là việc lựa chọn giá thể thích hợp cũng nhƣ chế độ dinh dƣỡng hợp lý cho hoa đồng tiền Hà Lan, để cây sinh trƣởng, phát triển tốt, cho năng suất hoa cao hiện đang là vấn đề mà rất nhiều bà con quan tâm trăn trở và là việc làm cấp bách hiện nay. Để góp phần giải quyết những khó khăn trên, nhằm tìm ra loại giá thể hợp lý nhằm tăng năng suất, chất lƣợng hoa, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hƣởng của giá thể đến sinh trƣởng, phát triển của giống đồng tiền nhập nội năm 2016 tại thành phố Thái Nguyên”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Xác định đƣợc giá thể thích hợp cho sự sinh trƣởng phát triển của giống hoa đồng tiền Hà Lan tại thành phố Thái Nguyên. Yêu cầu Nghiên cứu ảnh hƣởng của giá thể tới khả năng sinh trƣởng, phát triển của hoa đồng tiền. Nghiên cứu ảnh hƣởng của giá thể tới năng suất, chất lƣợng hoa đồng tiền.
Đánh giá khả năng chống chịu với thành phần sâu bệnh hại. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm và củng cố những kiến thức lý thuyết đã học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dữ liệu khoa học có giá trị, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về cây hoa đồng tiền trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa thực tiễn Tìm ra đƣợc loại giá thể phù hợp với cây hoa đồng tiền trồng chậu, hoa có năng suất chất lƣợng tốt đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho ngƣời trồng. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Giá thể đƣợc xem nhƣ là sự thay thế hoàn hảo cho đất. Là nơi tạo điều kiện thích hợp cho sự nảy mầm và là chỗ bám vững chắc cho sự hình thành rễ cây.
Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng. Đất không phải môi trƣờng tốt cho cây con. Cho thêm cát hoặc cát kết hợp với than bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt. Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp đặc biệt mà có thể sử dụng đƣợc.
những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi đất ruộng bị ô nhiễm do sâu bệnh và do hóa chất. Sự khác nhau của môi trƣờng nhân tạo đƣợc thể hiện nhƣ sau: Theo Rebecca Tyson Northen (1974) [19] cho rằng, việc cấy phong lan con lấy ra từ ống nghiệm nên dùng 3 phần vỏ cây thông xay nhuyễn + 1 phần cát hoặc 8 phần Osmida xay nhuyễn + 1 phần than vụn. Giá thể này cho tỉ lệ sống của cây lan con cao và cây sinh trƣởng phát triển tốt. Có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần của giá thể ảnh hƣởng đến chất lƣợng cây trồng.
Tùy từng loại cây khác nhau mà giá thể có thành phần khác nhau. Theo kết quả điều tra của Viện Thổ Nhƣỡng Nông hóa (2003) [13], việc nghiên cứu và sử dụng giá thể cây con trong vƣờn ƣơm ở Việt Nam trên nhiều đối tƣợng cây trồng nhƣ: cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau giống và rau an toàn, hoa cây cảnh… kết quả nhóm hoa nhƣ sau: giá thể cho hoa và cây cảnh của công ty đất sạch Thành phố Hồ Chí Minh cũng có những tính chất, lý hóa học tƣơng đối thích hợp đối với cây trồng, nguyên liệu hữu cơ (xơ dừa) đƣợc xử lý tốt để phối trộn giá thể. Giá thể trồng hoa hồng của Thái Lan nhập về có nhiều hạn chế về dinh dƣỡng, cả hai loại Cúc và Hồng tỷ lệ hữu cơ còn ít do vậy giữ ẩm không cao. Ở cây hoa hồng, các tác giả Đặng Văn Đông (2002) [2] cho biết khi gieo hạt làm gốc ghép cho vƣờn ƣơm tốt nhất là trong nhà che nilon hoặc giá thể c 5 treo trên khay.
Cây gieo trên khay mọc đều hơn, nhanh hơn và rút ngắn đƣợc thời gian ƣơm cây. Khi gieo trên nền đất ngoài trời thì ta phải đƣa ra trồng sớm hơn vì sau trồng phải mất khoảng một tháng cây mới phục hồi sinh trƣởng. Với giá thể giâm cành, nó ảnh hƣởng rất lớn tới khả năng ra rễ và tỷ lệ sống của cây, các tác giả đã đƣa ra công thức tốt nhất là: 30% đất đồi + 30% đất phù sa + 40% trấu hun và 20% xỉ than + 40% đất phù sa + 40% trấu hun. Theo Sở nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội (2003) [25] nghiên cứu bƣớc đầu đƣa ra kết quả 5 công thức phối trộn giá thể cho 5 loại cây trồng nhƣ sau: cây hoa hồng Đà Lạt: 76,5% than bùn+ 13,5 bèo dâu + 10% đất; cây cảnh 76,5% than bùn + 6,75% trấu + 6,75 bèo dâu + 10% đất; hoa giống: 45% than bùn + 22,5 trấu + 22,5 bèo dâu + 10% đất; ớt: 67,5 than bùn + 22,5 trấu hun + 10% đất và cà chua: 67,5 than bùn + 22,5 bèo dâu + 10% đất.
Theo Lê Xuân Tảo (2004) [9] đã tiến hành làm thí nghiệm để nghiên cứu loại giá thể thích hợp cho một số loài hoa trồng chậu là báo xuân, hoa hồng tiểu muội, cúc Indo. Trong đó tác giả đã đƣa ra kết luận, giá thể thích hợp để trồng cúc Indo trong chậu gồm 1/4 trấu hun + 2/4 mụn dừa + 1/4 phân chuồng, đồng thời tác giả cũng đề nghị giá thể thích hợp cho cây cúc nói chung là 2 phần đất vƣờn + 1 phần phân chuồng hoai mục + 1 phần than bùn + 1 phần đá mạt. Kết quả nghiên cứu của Jiang Qing Hai (2000) [5] cho thấy để cây sinh trƣởng phát triển tốt khi phối chế các vật liệu nuôi cấy cần chú ý các điều kiện cơ bản bao gồm các tính chất: - Tính chất vật lý: chủ yếu là mức độ tơi xốp, thông thoáng khí, khả năng hấp thu, khả năng hút nƣớc và độ dày của vật liệu. - Tính chất hóa học: chủ yếu là độ chua (trị số PH) và mức độ hút dinh dƣỡng.
- Tính chất kinh tế: chủ yếu là mức độ hữu hiệu của vật liệu nuôi cấy có thể sử dụng lại, dễ lấy, tiện lợi cho việc trộn, sạch sẽ, không mùi, giá rẻ. c 6 Ở Việt Nam,đã có một số nghiên cứu về giá thể đối với hoa, cây cảnh. Tác giả Nguyễn Phƣơng Thảo (1998) [10] cho biết: việc xác định môi trƣờng dinh dƣỡng cho cây rất quan trọng. Loại giá thể khác nhau có ảnh hƣởng quyết định tới tỷ lệ sống khi đƣa cây con ra từ trong ống nghiệm.
Hiện nay, nhiều loại hoa đƣợc nhân giống bằng phƣơng pháp invitro giai đoạn sau nuôi cấy trong ống nghiệm quyết định tỷ lệ sống và chất lƣợng cây con, yêu cầu của giá thể vừa đảm bảo độ tơi xốp, thoáng khí, có tính giữ ẩm cao, đồng thời phải hoàn toàn sạch mầm bệnh. Các nhóm giá thể phù hợp cho việc trồng lan tại Hà Nội: Xơ dừa cắt khúc 40%+ dƣơng xỉ 20%+ than củi 20%+ vỏ cây 20% trong đó có sử dụng Basurdin+ Validacin xử lý 0,1%-0,2% trên nền vƣờn ƣơm. Hoặc giá thể gồm 40% xơ dừa cắt khúc+ 40% dƣơng xỉ+ 20% vỏ cây trong đó sử dụng Basurdin+ Validacin xử lý 0,1%-0,2% trên nền vƣờn ƣơm. Tại Thành phố Hồ Chí Minh thƣờng sử dụng các loại giá thể là vỏ dừa cắt khúc 50%+ than củi 50% hoặc vỏ dừa cắt khúc 70%+ than củi 30% để trồng phong lan.