ĐẶT VẤN ĐỀ Trong một hệ sinh thái, các loài động thực vật và vi sinh vật chung sống với nhau trong mối quan hệ cân bằng động, xâu chuỗi với nhau trong sự tồn tại chung. Những tác động tiêu cực hay tích cực vào một thành phần hay yếu tố nào đó đều có thể gây ra những ảnh hưởng tới hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Hiện nay, thuốc trừ sâu có nguồn gốc hóa học được dùng liên tục và chủ yếu để phòng trừ sâu hại đã không những gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới các loài côn trùng rừng, các loài sâu hại bị nhờn thuốc, các loài ký sinh, ăn thịt cũng bị tiêu diệt dẫn đến nền sản xuất không ổn định và bền vững, sự xuất hiện các trận dịch sâu hại trên diện rộng và ngày một gia tăng, khó kiểm soát và diễn biến phức tạp. Trong các hệ sinh thái, hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính ổn định cao, không có sinh vật gây hại nghiêm trọng và nó có thể tự điều chỉnh để cân bằng.
Đối với hệ sinh thái rừng trồng thuần loài, diện tích tập trung lớn dẫn đến tính bền vững và ổn định kém và đã xuất hiện nhiều loài sâu hại nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng, do đó việc phòng trừ sâu hại rừng là cần thiết và có ý nghĩ rất quan trọng đối với sự sinh trưởng cũng như tồn tại của cây rừng. Thông nhựa, Thông mã vĩ là hai loài cây đã và đang được gây trồng chủ yếu ở các tỉnh của nước ta như: Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và các tỉnh ven biển miền Trung. Các loại côn trùng gây hại cho hai loài Thông này chủ yếu có: Sâu róm thông, ong ăn lá thông, sâu đục nõn thông, sâu róm 4 chùm lông.trong đó loài gây hại nguy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.vn hiểm nhất là sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) thuộc họ Ngài kén (Lasiocampidae), bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Khi phát dịch chúng không chỉ gây thiệt hại về kinh tế do làm giảm quá trình sinh trưởng, giảm sản lượng,.mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan môi trường sinh thái.
Từ trước đến nay đã có rất nhiều các biện pháp được nghiên cứu và đưa ra áp dụng trong phòng trừ sâu róm thông bằng các biện pháp riêng lẻ như biện pháp vật lý, cơ giới, biện pháp hóa học, biện pháp sinh học cho đến áp dụng biện pháp phong trừ tổng hợp nhưng cho đến nay dịch sâu róm thông do Dendrolimus puctatus vẫn còn xuất hiện tại một số nơi như: Sơn Động - Bắc Giang, Hà Trung - Thanh Hóa; Nghị Lộc, Nam Đàn - Nghệ An, Hương Khê, Hương Sơn - Hà Tĩnh, Quảng Trạch - Quảng Bình. Dịch do ngài độc cũng đã xuất hiện ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Việc phòng trừ sâu róm thông tuy đã có kết quả nhất địch và chỉ mang tính chất dập dịch là chính, nhưng những hậu quả để lại như sự tồn dư của thuốc hóa học, ô nhiễm môi trường, dịch sâu vẫn tái pháp. là những điều mà các nhà khoa học và quản lý môi trường đang thực sự lo ngại.
Vì vậy cần phải có những phương pháp tiếp cận mới trong việc phòng chống sâu róm thông nói riêng và sâu hại nói chung với phương châm hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường. Sơn Động là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Giang nơi có diện tích thông mã vĩ lớn trên địa bàn tỉnh, dịch sâu róm thông và ngài độc thông đã xảy ra liên tục trong các năm qua, địa phương rất lúng túng trong việc phòng trừ dịch và biện pháp tác động chủ yếu là sử dụng thuốc hóa học nên hiệu quả thu được không như mong muốn. Trước thực tế đó, việc nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài ký sinh và các loài ăn thịt sâu róm thông Dendrolimus punctatus gây dịch hại lá Thông mã vĩ là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Trên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.vn cơ sở nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài, đặc điểm của các loài ký sinh và tập tính của các côn trùng ăn thịt sẽ định hướng được việc sử dụng các loài ký sinh và các loài côn trùng ăn thịt trong phòng chống sâu róm thông hại rừng trong hệ thống biện pháp phòng trừ tổng hợp mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường to lớn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 http://www.vn CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình về sâu róm thông và thiên địch của sâu róm thông trên thế giới. Đã có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu về sâu róm thông và các loài côn trùng thiên địch của chúng, các công trình này đã tập trung nghiên cứu về đặc điểm cơ bản sinh học, sinh thái học của sâu róm thông và các loài côn trùng thiên địch của chúng, từ đó đưa ra một số biện pháp phòng trừ tổng hợp, một trong số biện pháp đó là việc sử dụng các loài côn trùng ăn thịt và côn trùng ký sinh có ích để tiêu diệt sâu róm thông mà không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái môi trường. Các công trình nghiên cứu phải kể đến ở đây là: Năm 1991, Goyer trong “Phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho loài sâu ăn lá thuộc miền Nam nước Mỹ” ông đã phê phán việc sử dụng thuốc hóa học truyền thống đã gây ra ảnh hưởng lớn đến kinh tế và môi trường, đồng thời làm giảm đa dạng sinh học của hệ động vật rừng (Dẫn theo [7],[12]).
Năm 1987, Ravlin và Haynes đã sử dụng phương pháp mô phỏng trong quản lý côn trùng ký sinh phục vụ phòng trừ sâu hại họ Ngài khô lá. Đây là phương pháp sử dụng thiên địch để diệt trừ sâu hại nên không ảnh hưởng xấu tới môi trường. Năm 1997, Cố Mậu Bình và Trần Phương Trầm đã xuất bản cuốn sách chuyên khảo quan trọng để phân loại các loài bướm ngày. (Dẫn theo [7][12]) Năm 1989, Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Barry Drummond và Swain đã có những chuyên đề và chương trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.vn Theo cuốn sách Parasitoids and Predantors of Forest Pests in China Chuyên khảo về côn trùng ký sinh và ăn thịt của Chen Xue-xin & He Jun-hua năm (2006) [32] Ở Trung Quốc đã phát hiện nhiều loài côn trùng ăn thịt và côn trùng ký sinh sâu róm thông, tác giả đã mô tả về đặc điểm hình thái, tập tính sinh vật học của từng loài. Năm 1994, Evans, Fielding trong chương trình phòng chống loài Dendroctonus micans hại vỏ cây Vân sam ở Anh đã nêu lên cơ sở của việc phòng chống loài sâu này trong đó có phương pháp sinh học dùng Hổ trùng ăn thịt Rhizophogus grandis nhập nội, chăm sóc và thả vào rừng. Sau một thời gian (năm 1997) loài sâu này đã giảm rõ rệt, chứng tỏ tác dụng của loài Rhizophogus grandis là rất tốt trong việc sử dụng để điều chỉnh mật độ sâu bệnh hại( Dẫn theo [7],[12]). Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sâu róm thông nói chung và Sâu róm 4 túm lông nói riêng, các công trình này đã tập trung mô tả hình thái các loài sâu róm thông và đặc điểm sinh thái của chúng, các công trình phải kể đến là: Năm 1987, Alexander Schintlmeister [21] có báo cáo khoa học về hệ côn trùng thuộc họ Lymantriidae và Notodontidae ở Việt Nam.
Trong báo cáo này họ Lymantriidae có 31 loài, trong đó có 9 loài mới phát hiện. Đây là kết quả nghiên cứu trên cơ sở kế thừa mẫu vật đã được thu thập từ năm 1980-1982 của Spitzer, từ năm 1978-1982 của Helia ở Hà Nội, Đồ Sơn, Tam Đảo, Hạ Long, Sa Pa và một số khu vực khác. Báo cáo cũng cho thấy côn trùng thuộc 2 họ này đã nghiên cứu từ năm1929 bởi De Joannis. Cho đến thời điểm năm 1987, một số loài thuộc họ Lymantriidae đã được giám định ở Việt Nam là 84 loài.
Theo tác giả có tới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 http://www.vn 80% số loài thuộc họ Lymantriidae cũng có ở Trung Quốc. Có 2 loài thuộc giống Calliteara là C. Horsfedii Saunder, 1851 (thu được ở Hà Nội năm 1976) và C.Axutha Coollennette, 1934 (thu được ở Hà Nội năm 1976) và C. Axutha Coollennette, 1934 (thu được ở Đồ Sơn năm 1978) Hai loài thuộc Dasychira là D.
Giống Orgyia cũng có 2 loài là O. Hai loài Pantana là P. Năm 1991, Xiao Gangrou [31] đã mô tả 2 loại thuộc giống Dasychira là D.axutha Collenette và D. grotei Moore, trong đó có loài thứ nhất có những đặc điểm khá giống với sâu róm thông 4 túm lông ở Việt Nam, cũng gây hại trên cây Thông đuôi ngựa.
Tuy nhiên trong tài liệu Xiao Gangrou không thấy đề cập tới phương pháp phòng trừ. Năm 2002, Hoàng Chí Bình [30] đã phân tích nguyên nhân gia tăng số lượng quần thể Ngài độc hại thông (Sâu róm 4 túm lông) và biện pháp phòng trừ chúng. Nghiên cứu về Sâu róm 4 túm lông và sự phân tích ảnh hưởng các yếu tố môi trường và phát sinh Ngài độc thông. Nghiên cứu này đã nói về mối quan hệ giữa lâm phần và sự phát sinh sâu hại, mối quan hệ giữa thiên địch và phát sinh sâu hại, mối quan hệ giữa khí hậu và phát sinh dịch sâu hại.
Nghiên cứu trong nƣớc. Ở nước ta do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nên công tác nghiên cứu gần như đình trệ chỉ có những năm gần đây trong lĩnh vực nông nhiệp, Viện nghiên cứu khoa học Việt nam đã sản xuất ong mắt đỏ (Trichogramma Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.vn japonicum Ash) mỗi năm có thể nuôi được 40 thế hệ, mỗi thế hệ ra hàng triệu con thả thí điểm ở các tỉnh ở đồng bằng bắc bộ. Kết quả đối với sâu cắn lá nhỏ hại lúa là 84,8%, sâu đục thân ngô là 95% sâu đo hại bắp cải 20%, sâu đo xanh hại đay 80%, và năm 1993 ong mắt đỏ mới được thửu nghiệm để phòng trừ sâu róm thông ở Quảng Ninh. Mãi tới năm 1979 mới có công trình nghiên cứu đầu tiên của Tác giả Hoàn Đức Nhuận về loài công trùng có ích.
Ông đã xuất bản hai cuốn sách nghiên cứu về bọ rùa ở Việt Nan.