Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Dạy học xác suất thống kê tại trường ĐHHP có ứng dụng CNTT. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Vai trò của CNTT trong dạy học 1. Đôi nét về CNTT Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứng dụng trong mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Máy tính và Internet đem lại những hiệu quả vô cùng lớn, không thể đo đếm được. Một máy tính nối mạng không chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửi email mà nó là kênh kết nối chúng ta với cả thế giới.
Chúng ta có thể tiếp cận với tri thức nhân loại, có thể làm quen giao tiếp với nhau hoặc tham gia những hội thảo, hội nghị ở cách xa nửa vòng trái đất. Mạng máy tính toàn cầu thực sự đã tạo ra một thế giới mới, trong đó cũng có gần như các hoạt động của thế giới thực: thương mại điện tử, giáo dục điện tử, trò chơi trực tuyến, các diễn đàn, các mạng xã hội, các công dân điện tử… Thông qua các diễn đàn và mạng xã hội, mọi người có thể trao đổi, chia sẻ với nhau các tài nguyên số, cũng như các kinh nghiệm trong công việc, trong đời sống thường ngày. Trong lĩnh vực giáo dục, các bậc phụ huynh trên cả nước có thể chia sẻ kinh nghiệm về cách chăm sóc con cái; GV có thể chia sẻ các bài giảng và bài giảng với nhau, để xây dựng một "kho tài nguyên" khổng lồ phục vụ cho việc giảng dạy của mỗi người. SV cũng có thể thông qua các mạng xã hội để trao đổi những kiến thức về học tập và thi cử.
Ứng dụng CNTT trong dạy học của GV 1. Phát triển và hoàn thiện tài liệu dạy học Trong môi trường học tập mang tính chất cá thể hoá cao, SV theo đuổi những câu hỏi, sử dụng các tài liệu và tham gia vào các hoạt động thì người thầy dựa vào CNTT để phát triển và hoàn thiện tài liệu nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu phân hóa SV. Có hai cách thức khác nhau mà GV có thể sử dụng CNTT để soạn tài liệu hướng dẫn cho SV: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Phát triển tài liệu hướng dẫn dựa trên cơ sở CNTT CNTT cho phép GV sáng tạo tài liệu cho mình, có thể được xem là vô cùng hấp dẫn. Ngày nay có nhiều phần mềm mà GV dễ dàng sử dụng để tạo tài liệu giảng dạy như Power Point, Latex,.GV càng dễ dàng lập được các tài liệu có cả hình ảnh, âm thanh sống động.
+ Mô phỏng Có thể ứng dụng CNTT mô phỏng một số hiện tượng thực tế mà nếu làm thí nghiệm sẽ quá tốn kém hoặc nguy hiểm. Hơn nữa máy tính còn điều khiển được quá trình nhanh hoặc chậm theo ý muốn để SV có thể quan sát và kịp nhận thức. Thực tế cho thấy, những phần mềm cho dù đã được thử nghiệm cẩn thận và có thể phù hợp với một nhóm SV này nhưng lại không phù hợp với những SV khác. GV cần có khả năng tiếp nhận tài liệu hướng dẫn theo hướng phù hợp với nhu cầu của từng SV cụ thể.
Đánh giá kết quả học tập của SV Đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy học và cần phải thực hiện một cách thường xuyên. CNTT có thể hỗ trợ việc đánh giá học tập của SV không chỉ về kết quả mà còn đề xuất được các hướng dẫn cụ thể. Đặc biệt, CNTT giúp cho GV có thể: Theo dõi được luồng suy nghĩ của SV; thu thập được thông tin phản hồi tức thì từ các loại đối tượng SV; lưu giữ và truy cập được công việc của SV kèm với nhận xét kịp thời; đặt ra được những mục tiêu cho từng cá nhân và đề xuất các hướng dẫn cần thiết. + Theo dõi quá trình học tập của SV: CNTT có một vai trò đắc lực trong việc phân định luồng suy nghĩ và học tập của SV: - Phản ánh cách thức SV học tập qua thông tin phản hồi.
- Ghi chép lại các quá trình suy nghĩ và sách lược giải quyết vấn đề của SV trước một vấn đề hay nhiệm vụ nào đó. - Đánh giá năng lực xử lý vấn đề của SV. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Thông tin phản hồi ngay từ phía SV: Một vấn đề tồn tại trong quá trình đối thoại ở lớp là sự khập khiễng giữa mức độ trình bày với mức hiểu biết của rất nhiều SV. Vì khi mô tả các khái niệm và quy trình, GV phải phụ thuộc vào thông tin phản hồi từ phía SV xem có vấn đề gì không.
Thực tiễn cho thấy có một số SV hiểu tốt nội dung bài học lại thường miễn cưỡng tham gia vào các cuộc tranh luận trên lớp. Những SV không hiểu gì thì thường im lặng, và GV lại tiếp tục giải thích điều mà một số SV lại chẳng cho đó là khó hiểu. CNTT có thể giúp cải thiện được vấn đề này bằng việc cung cấp một thiết bị hướng dẫn cho ta thông tin phản hồi tức thì từ tất cả các SV có mặt trong lớp. + Lưu trữ và truy cập vào công việc của SV và có nhận xét tại chỗ: Cho đến nay chưa có phương tiện nào cho ta được một hệ thống hoàn chỉnh để nhập, lưu trữ, truy cập, phân tích, trình diễn số liệu và thực hiện hoạt động như CNTT.
GV đang thiếu một sự hỗ trợ khi cố tạo lập một cơ sở dữ liệu mang tính hệ thống về tốc độ tiến bộ của trẻ em trong một khoảng thời gian đủ dài. + Quản lý có hướng dẫn học tập của SV: Công tác giảng dạy kéo theo lượng công việc khổng lồ về quản lý các mục tiêu hỗ trợ dạy-học và hồ sơ thực hành của SV, đặc biệt là khi nội dung hướng dẫn đã được soạn thảo riêng cho cá nhân. Một trong các “ngăn chứa” lớn nhất của các hệ thống chuyên về học tập là để chứa phần mềm nhằm tự động hoá quy trình này. Mục tiêu học tập của mỗi SV, đơn vị học phần dự định và đã hoàn thành, công việc đánh giá cuối mỗi tiểu mục đều được ghi lại.
Rất nhiều hệ thống có khả năng làm ra các báo cáo tình hình học tập cả cho cá nhân SV và cho tập thể lớp. Những điểm đặc trưng về “quản lý có hướng dẫn” như vậy sẽ không thể làm được nếu thiếu vắng một hệ thống chuyên về học tập được thiết kế để bố trí hướng dẫn đúng chỗ, đúng lúc. Mở rộng kiến thức của GV Các hệ thống viễn thông đang giúp GV cởi bỏ sự biệt lập truyền thống để tăng cường giao tiếp với đồng nghiệp và chuyên gia khác. Những quan hệ qua 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại này có thể giúp GV mở rộng tầm nhìn về các môi trường dạy và học hiệu quả, hiểu cách thức mà CNTT sẽ hỗ trợ, tìm hiểu về các chiến lược hướng dẫn có hiệu quả, chia sẻ thông tin về SV, và đón nhận sự hỗ trợ động viên để học hỏi.
Phương tiện viễn thông cho phép GV sống trong môi trường thông tin thường xuyên với những con người phía bên ngoài lớp học mà vẫn không gây ảnh hưởng gì tới lớp cả. GV không bị quấy rầy bởi các cú điện thoại, mà thay vào đó lời nhắn sẽ được lưu lại cho tới khi GV có điều kiện sẵn sàng đón nghe nó. Việc tham gia vào mạng viễn thông có thể giúp GV khai triển các chiến lược hướng dẫn mới có tác dụng thúc đẩy việc học-hỏi. Ngoài việc tạo ra mối liên kết giữa các đồng nghiệp, CNTT có thể tạo mối tiếp cận với các chuyên gia về chủ đề mà GV đó đang tiến hành giảng dạy.
Kể cả GV có được cơ sở chuẩn bị kỹ càng nhất cũng không thể biết hết được mọi thứ thuộc một lĩnh vực nào đó, những thành tựu mới thuộc lĩnh vực đó. Bằng công nghệ, khả năng tiếp cận với những chuyên gia về chủ đề đó được tăng lên nhiều, giúp GV có cơ hội củng cố kiến thức của mình về lĩnh vực nội dung mà họ đang giảng dạy. Chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp Một trong những lý do hạn chế hiệu quả trong công việc của GV là tình trạng ít cơ hội trao đổi với đồng nghiệp khi gặp các vấn đề trọng tâm trong chương trình hoặc phương pháp dạy học. Cơ hội để GV có thể hợp tác với GV khác qua hội thảo, mạng cục bộ và Internet.
Họ cũng học hỏi được từ những người khác nhờ đọc các bài mô tả về những sự việc đã xảy ra ở những lớp khác. Nhờ có sự chia sẻ thông tin về sự việc xảy ra ở lớp của họ mà các GV có thể tiếp thu được một vài ý tưởng hay trong đó. Một khi GV đã có được sự hợp tác và cộng tác với các bạn đồng nghiệp của mình thì tự nhiên họ sẽ có điều kiện tạo ra một môi trường như vậy cho SV của mình. Tích hợp CNTT vào lớp học Tích hợp CNTT vào lớp học là một biện pháp làm tăng hiệu quả sử dụng công nghệ trong dạy và học.
Cuộc cách mạng về CNTT đã đem lại hiệu quả 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao hơn cho việc đổi mới phương pháp dạy học so với các công nghệ trước. CNTT cho phép người học kết nối với nhiều thông tin hơn, với nhiều người hơn và việc dạy học được cá biệt hoá cao hơn. Nếu CNTT được kết hợp với các thiết bị dạy học khác sẽ nâng cao hiệu quả của công nghệ lên rất nhiều. Một xu thế tích hợp công nghệ được quan tâm là việc xây dựng môi trường học tập cộng tác với thời gian và không gian thực.
SV tự tìm tòi khám phá kiến thức và học tập theo tiến độ và khả năng riêng của mình. Ngoài ra, đưa công nghệ tích hợp vào bài giảng còn được thực hiện bằng việc lựa chọn phần mềm thích hợp, soạn bài giảng có sử dụng công nghệ hỗ trợ dạy học, tổ chức cho SV hoạt động trong môi trường học tập do công nghệ tạo ra. Vấn đề này có thể tiếp cận trên ba hướng: + Hướng thứ 1: GV có thể đi tìm một ứng dụng công nghệ nào đó đang có sẵn để ứng dụng vào bài giảng hiện tại. Trong chương trình giảng dạy có sẵn những “khoảng trống” để tiếp đón phần mềm ứng dụng này.
+ Hướng thứ 2: GV có một chương trình giảng dạy hoàn chỉnh và tổng thể.