chương 1, chúng tôi xác định lại các vấn đề nghiên cứu V1, V2, V3 và chúng tôi đã rút ra được một giả thuyết nghiên cứu G1. Trong chƣơng 2, chúng tôi đi tìm câu trả lời cho các vấn đề V1, V2. Để thực hiện được điều này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu chương trình, phân tích sách giáo khoa nội dung hình học không gian ở các khối lớp: lớp 8, lớp 9, lớp 11, lớp 12. Chúng tôi cũng phân tích những khó khăn trong quá trình dạy -8- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình học không gian ở trường phổ thông; phân tích những ưu điểm của phần mềm Cabri 3D trong dạy học hình không gian.
Những phân tích này giúp chúng tôi trả lời cho các đề V1, V2 và rút ra giả thuyết nghiên cứu G2. Chƣơng 3 của luận văn có mục đích xây dựng và tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng các giả thuyết và tìm câu trả lời cho vấn đề V2. Trong phần kết luận của luận văn, chúng tôi trình bày các kết quả mà chúng tôi đạt được trong quá trình nghiên cứu. -9- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.
Một số quan điểm của lí luận dạy học hiện đại 1. Quan niệm về dạy học Thế nào là DẠY? Thế nào là HỌC? Có rất nhiều câu trả lời khác nhau cho chủ đề này. Theo cách tiếp cận thông tin thì:”Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh (M. Dạy là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi những tình cảm, thái độ (Lâm Quang Thiệp, 2005)”.
Theo quan niệm này, dạy không phải là truyền thụ kiến thức, càng không phải cung cấp thông tin đơn thuần, mà chủ yếu là giúp người học tự mình chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, thay đổi tình cảm và hình thành thái độ. Roy (2000) đã nêu tác nhân người học, người dạy và môi trường. Các tác giả nhấn mạnh: người học là người đi học chứ không phải người được dạy (tính tự nguyện và chủ động), nhiệm vụ của người dạy là giúp đỡ người học, phục vụ người học để làm nảy sinh tri thức ở người học, còn môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh và bên trong người học là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc dạy và học. Theo cách tiếp cận thông tin đã nêu trên, môi trường chính là nơi chứa thông tin.
Theo một quan niệm rất phổ biến thì việc chuyển từ dạy sang học chỉ là một sự liên hệ chuyển giao đơn giản : học sinh ghi nhận những gì giáo viên truyền thụ với ít nhiều mất mát thông tin. Nhiều công trình nghiên cứu đã vạch ra sai sót của quan điểm đó. Việc học không phải là một quá trình chuyển giao đơn giản, cũng không phải là một quá trình tuyến tính và liên tục. Theo Brousseau (1998), học sinh học bằng cách - 10 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thích nghi với môi trường trong đó chứa đựng mâu thuẫn, khó khăn, mất thăng bằng, giống như xã hội loài người vậy.
Tri thức là kết quả của sự thích nghi của học sinh. Chính bằng cách hành động trên môi trường, bằng các giải thích của cá nhân đối với các phản hồi tạo ra từ môi trường, bằng việc lặp lại các phép thử cho lời giải của mình mà học sinh xây dựng các thích ứng trong kiến thức của mình đối với tình huống gây cho học sinh một vấn đề nào đó. Các thích ứng này chính là nguồn gốc của các kiến thức mới. “ Các tình huống và môi trường được tổ chức xung quanh một dụng cụ sẽ yêu cầu học sinh phải sử dụng các kĩ thuật, chiến lược liên quan đến công cụ và do đó có thể góp phần vào sự tiến triển của các kiến thức”.
Như vậy, trong một số trường hợp các kiến thức Toán được xây dựng đồng thời với quá trình phát sinh công cụ của chủ thể. Do đó giáo viên cần tạo ra cho học sinh những sự thích nghi mong muốn bằng cách lựa chọn kỹ cho họ những tình huống thích hợp. « Giáo viên không có nhiệm vụ làm cho học sinh học, mà phải làm thế nào để họ có thể học. Giáo viên không có trách nhiệm trong việc học (điều đó nằm ngoài quyền lực của anh ta), nhưng lại có trách nhiệm tạo ra những điều kiện cho phép học tập.
Như vậy, ta có thể thấy rằng các quan điểm của lí luận dạy học hiện đại đều đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, và xem người học là nhân tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả của quá trình dạy học.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 1. Đặc điểm của phương pháp dạy học hiện đại Đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu khách quan để hiện thực hoá những mục tiêu của giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội ngày nay. Phương pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và sáng tạo. Định hướng này có thể gọi tắt là học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, hay gọn hơn : hoạt động hoá người học.
Đặc điểm của phương pháp dạy học hiện đại là: 1) Xác định vị trí chủ thể của người học, đảm bảo tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của hoạt động học tập được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu. 2) Tri thức được cài đặt trong những tình huống có dụng ý sư phạm. Đây là một yếu tố của lí thuyết tình huống. 3) Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học.
4) Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học để tiếp nối và gia tăng sức mạnh của con người. 5) Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân người học. 6) Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách người thiết kế, uỷ thác, điều khiển và thể chế hoá: Thiết kế là lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học về mặt mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức. Uỷ thác là biến ý đồ dạy của thầy thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò, là chuyển giao cho trò không phải những tri thức dưới dạng có sẵn mà là những tình huống để trò hoạt động và thích nghi.
Điều khiển bằng cách hướng dẫn, trợ giúp, đánh giá và sử dụng cả những tác động tâm lí như động viên, khuyến khích. Thể chế hoá bao gồm xác nhận những kiến thức mới phát hiện, đồng nhất hoá những kiến thức riêng lẻ mang màu sắc cá thể, phụ thuộc hoàn cảnh và thời gian của từng học sinh thành tri thức khoa học của xã hội, tuân thủ chương trình về mức độ yêu cầu, cách tiếp cận, hình thức diễn đạt, về vị trí của tri thức mới trong hệ thống tri thức đã có, hướng dẫn vận dụng và ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí nhớ nếu không cần thiết. (Nguyễn Bá Kim, 2005) - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông mới trong dạy học môn toán Khi nghiên cứu định hướng đổi mới phương pháp dạy học ngày nay, ta cần chú ý đến một đặc điểm rất quan trọng của thời kỳ này, đó là đặc điểm về sự phát triển công nghệ.
Trong quá trình dạy học, các hoạt động được thiết kế bởi người dạy với sự trợ giúp của CNTT-TT tạo nên môi trường lí tưởng để người học kiến tạo và tự chiếm lĩnh tri thức. Theo Nguyễn Bá Kim (2005), một trong các ý đồ sử dụng CNTT-TT như công cụ dạy học là “ tạo ra môi trường học tập tương tác để người học hoạt động và thích nghi với môi trường. Việc dạy học diễn ra trong quá trình hoạt động và thích nghi đó”. CNTT trong dạy và học toán có thể được xem như là sự hỗ trợ một đặc tính tương tác của giáo viên và học sinh bởi các đồ dùng dạy học phù hợp.
Những phương tiện dạy học thông tin điện tử đem lại những khả năng có tính động cơ, kích thích và thích thú để lôi cuốn học sinh vào việc học và hiểu toán. Nếu việc dạy toán được xem như là một quá trình truyền thụ, thì CNTT được giáo viên sử dụng để trình bày, giải thích nhằm làm sáng tỏ các ý tưởng toán học và tìm kiếm cách để thuyết phục học sinh. Còn nếu việc dạy toán được xem như là một quá trình kiến tạo, thì CNTT được sử dụng gắn liền với người học, để khuyến khích tính độc lập suy nghĩ và tinh thần dám đặt câu hỏi và phản ánh. Khoa học công nghệ là thiết yếu trong dạy và học toán, nó tác động đến kiến thức toán học được dạy, nâng cao việc học của học sinh, hỗ trợ việc dạy toán hiệu quả.
Rõ ràng phương pháp dạy học toán buộc phải thay đổi do sự phát triển của khoa học công nghệ nhưng nên thay đổi theo hướng dành nhiều thời gian để giảng dạy sâu về lý luận, về những khái niệm bản chất của toán học, về cách thiết lập các bài toán, và rèn luyện - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho người học phương pháp tư duy (Lâm Quang Thiệp, 2000). Không nên dành quá nhiều thời gian để làm các bài tập khó, luyện kỹ thuật và mẹo luật tính toán như trước đây, người học chỉ cần làm một số bài tập không phức tạp lắm để hiểu bản chất của vấn đề. Giáo viên nên sử dụng khoa học công nghệ để nâng cao cơ hội học tập cho học sinh bằng cách chọn và sáng tạo những nhiệm vụ toán học nhằm tận dụng được các thế mạnh của khoa học công nghệ. Mô hình dạy học kiến tạo Các kết quả nghiên cứu về giáo dục đã chỉ ra rằng: Kết quả của việc học chỉ thực sự có được khi học sinh tích cực, chủ động tham gia vào quá trình dạy học.
Chỉ trong quá trình học tập tích cực học sinh mới rèn luyện được kĩ năng, kiến thức, hình thành các phẩm chất trí tuệ, sự say mê học tập, nghị lực, và hoàn thiện nhân cách. Theo những định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trên, các phương pháp dạy học tích cực đã ra đời nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, thực hiện các mục tiêu giáo dục. Một trong những phương pháp dạy học tích cực là “ dạy học kiến tạo”.