Chương 1: Cơ sở lí luận về hoạt động chuyên môn và quản lý hoạt động chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. Chương 2: Thực trạng về hoạt động chuyên môn và quản lý hoạt động chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học ở trường tiểu học huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học ở trường tiểu học huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN THEO TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU BÀI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hoạt động chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học cho đến nay vẫn phổ biến ở nhiều trường tại Nhật Bản. Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học” có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868-1912) như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học ở từng bài học cụ thể.Xukhomlinki và Xvecxlenrơ nhấn mạnh tầm quan trọng của biện pháp dự giờ, phân tích bài học. Xvecxlenrơ cho rằng việc dự giờ và phân tích bài học là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác quản lý quá trình dạy học của giáo viên. Việc phân tích bài học trước hết phải nêu cho giáo viên biết cách khắc phục thiếu sót, phát huy các mặt mạnh để nâng cao chất lượng bài giảng.
Tác giả đã đề ra các yêu cầu và quy trình phân tích một giờ dạy để giúp cho hiệu trưởng thực hiện có hiệu quả biện pháp quản lý này. Hình thức này cũng đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng như: Mỹ, Đức, Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia… và đây là một trong những chủ đề giáo dục được quan tâm trên thế giới. Trong nhà trường tiểu học, đội ngũ giáo viên được sắp xếp theo từng tổ chuyên môn nên Hiệu trưởng quản lý hoạt động của giáo viên thông qua quản lý hoạt động tổ chuyên môn. Mục đích quản lý hoạt động của giáo viên nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
Điều này đã được khẳng định trong Luật Giáo dục năm 2005: "Tuy không trực tiếp tham gia vào hoạt động dạy và học, nhưng cán bộ quản lý giáo dục bằng những hoạt động quản lý của mình tác động vào quá trình giáo dục nhằm hướng cho hoạt động dạy và học đạt được những mục tiêu yêu cầu của giáo dục và bảo đảm chất lượng giáo dục".2] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đã có nhiều tác giả tiếp cận, nghiên cứu về quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn như sau: Nguyễn Khai Tâm (2000), Một số biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập cho các học sinh THPT thị xã Sơn La, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục. Luận văn đã đề cập đến biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng về mục tiêu, nội dung, hình thức quản lý chuyên môn trong trường THPT. Từ đó nghiên cứu thực trạng sinh hoạt chuyên môn và quản lý sinh hoạt chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT. Tuy nhiên đề tài chưa đưa ra những nguyên nhân hạn chế của thực trạng nên các biện pháp đưa ra chưa giải quyết triệt để hạn chế.
Tại Việt Nam, nói đến nghiên cứu bài học có một số bài viết trên tạp chí giáo dục và tạp chí khoa học giáo dục, có thể kể đến một số bài viết sau: Vũ Thị Sơn (2011), Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng xây dựng văn hóa học tập ở nhà trường thông qua "Nghiên cứu bài học", Tạp chí Giáo dục Số 269.20-23] Các bài viết này đã đề cập đến cơ sở lý luận của nghiên cứu bài học, tuy nhiên các giải pháp đưa ra đối với từng cấp học chưa có sự đồng bộ và toàn diện. Năm học 2014-2015, Bộ GD&ĐT chỉ đạo triển khai đại trà hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học tại tất cả các trường tiểu học trong toàn quốc, đến nay chưa đề tài nào nghiên cứu, đánh giá về thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý sinh hoạt chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học. Đề tài này đã góp phần hệ thống hóa lý luận và nghiên cứu thực trạng để đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học trong trường tiểu học. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định hoạt động chuyên môn và sinh hoạt chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với chất lượng dạy học bậc Tiểu học, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học.
Đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về quản lý hoạt động chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bài học. Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lắp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học tại các trường Tiểu học nói chung và các trường Tiểu học huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Những khái niệm công cụ 1. Quản lý Theo quan điểm điều khiển học: “Quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật,.
nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển” Tác giả Trần Kiểm (1997): “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến”.28] Theo Nguyễn Ngọc Quang: (1998) “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý ) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.55] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: (1997) “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển”.78] Tóm lại: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động”. Khái niệm quản lý bao hàm một ý nghĩa chung: là những tác động có tính hướng đích; hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức; quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm; quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một Quốc gia; quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Khái quát những phân tích trên, có thể xây dựng mô hình quản lý như sau: Chủ thể quản lý Mục tiêu Khách thể quản lý Đối tƣợng quản lý Sơ đồ 1. Mô hình quản lý [3] + Chức năng quản lý Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Quản lý có các chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Hiện nay, đa số các nhà khoa học và các nhà quản lý cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản, đó là: - Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý.
Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi tiềm năng đã có và sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và các biện pháp lớn nhỏ nhằm đưa hệ thống đến trạng thái mong muốn vào cuối năm học. - Chức năng tổ chức: Là giai đoạn tổ chức thực hiện kế hoạch đã được xây dựng. Tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch. Nếu người quản lý biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể.
- Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là phương thức tác động của chủ thể quản lý, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là biến mục tiêu quản lý thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực. - Chức năng kiểm tra: Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ quản lý. Giai đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa,… để thúc đẩy hệ đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và việc bổ sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo.
Ngoài ra, còn chức năng điều chỉnh báo cáo Kế hoạch Kiểm tra Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.2: Các chức năng quản lý 1. Quản lý giáo dục Về khái niệm quản lý giáo dục, hiện nay cũng có nhiều định nghĩa khác nhau. Quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay, lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước, do mỗi chỗ mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội.
Tuy nhiên, giáo dục thế hệ trẻ là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội.