phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Xây dựng hệ thống bài toán trong chủ đề “Các đƣờng đồng quy của tam giác” có tác dụng phát triển tƣ duy cho học sinh Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm năng lực Khái niệm “năng lực” đƣợc định nghĩa theo nhiều cách trên nhiều quan điểm khác nhau: triết học, tâm lí, giáo dục, ngôn ngữ,. Từ góc độ triết học, năng lực đƣợc định nghĩa theo nghĩa rộng của thuật ngữ này. Đó là “những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện cho hoạt động sống của cá thể.
Năng lực chung nhất của cá thể là tính nhạy cảm đƣợc hoàn thiện trong một quá trình phát triển về mặt phát sinh loài và về mặt phát triển cá thể”. [32] Từ góc độ tâm lí, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân, đáp ứng đƣợc những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động cụ thể, giúp cá nhân thực hiện hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Lê Đức Ngọc (2014) cho rằng, năng lực là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất đã rèn luyện đƣợc một cách đồng bộ để giải quyết tình huống hay vấn đề trong cuộc sống đạt kết quả tốt. Từ góc độ ngôn ngữ học, năng lực đƣợc hiểu nhƣ khả năng sẵn có để thực hiện một hoạt động, là phẩm chất tâm lí và sinh lí của mỗi cá nhân, giúp cá nhân đó hoàn thành một công việc, nhiệm vụ với chất lƣợng tốt (Hoàng Phê, 2008).
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, “năng lực là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [7] Nhƣ vậy, năng lực tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, đƣợc thể hiện qua hành động và đƣợc đánh giá qua kết quả của hoạt động. Nội hàm thuật ngữ năng lực gắn với khả năng thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ. Trong lĩnh vực sƣ phạm, theo chúng tôi năng lực có thể đƣợc hiểu là khả năng hành động, giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ đƣợc đƣa ra một cách hiệu quả, dựa trên kiến thức, kĩ năng đã đƣợc hình thành và rèn luyện. Các nhân tố hình thành năng lực Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố hình thành năng lực của mỗi cá nhân, bao gồm tƣ chất, tri thức, trải nghiệm, và kinh nghiệm.
Các nhân tố này cho thấy năng lực của con ngƣời dần đƣợc phát triển qua quá trình học hỏi, hành động, rèn luyện và tích lũy. John Erpenbeck (1998) chỉ ra rằng, năng lực đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở tri thức, thiết lập qua các giá trị, cấu trúc nhƣ là khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm và hiện thực hóa qua ý chí. Xuyên suốt chiều dài lịch sử nhân loại, mỗi thời đại, hình thái xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân những năng lực phù hợp với bối cảnh thời đại đó. Vì vậy, năng lực của con ngƣời không những do hoạt động bộ não quyết định, mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội mà nhân loại đã đạt đƣợc.
Do đó, năng lực mỗi cá nhân gắn bó không tách rời với tổ chức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục ứng tƣơng ứng với tổ chức đó. Nhƣ vậy, trình độ phát triển xã hội và hệ thống giáo dục cũng là một nhân tố quan trọng góp phần hình thành năng lực ở mỗi ngƣời. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc của năng lực Từ khái niệm năng lực, thấy rằng năng lực luôn đƣợc xem xét trong quan hệ với hoạt động cụ thể hay quan hệ nào đó.
Theo Lê Công Triêm (2001), có ba yếu tố nền tảng cấu trúc nên năng lực: - Tri thức về một phạm vi hoạt động hay một quan hệ nhất định. - Kĩ năng thực hiện hoạt động hay ứng xử với quan hệ nào đó. - Những điều kiện tâm lí để tổ chức và vận dụng tri thức, kĩ năng một cách thống nhất theo một định hƣớng rõ ràng nhằm thực hiện hoạt động, hoặc ứng xử với quan hệ nào đó. Ba yếu tố này là ba dạng chuyên biệt của năng lực, gồm: năng lực biết (năng lực ở dạng tri thức), năng lực thực hiện (năng lực ở dạng kĩ năng), và năng lực bộc lộ cảm xúc (năng lực ở dạng xúc cảm).
Những dạng chuyên biệt này có mối quan hệ thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên tổng thể năng lực của mỗi cá nhân. Các dạng của năng lực Theo IU.Xviregiev (1988), năng lực đƣợc chia thành năng lực chung và năng lực chuyên môn. Cụ thể, trong chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể mới, năng lực của học sinh đƣợc chia nhƣ sau: - Các năng lực chung gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. - Các năng lực chuyên môn gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.
[6] Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại với nhau, năng lực chung là nền tảng hình thành và phát triển năng lực chuyên môn. Đồng thời sự phát triển của năng lực chuyên môn sẽ giúp nâng cao năng lực chung. Hai loại năng lực chung và chuyên môn luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm tư duy Khái niệm tƣ duy đƣợc định nghĩa theo nhiều cách trên nhiều quan điểm khác nhau: triết học, tâm lí, giáo dục. Từ góc độ tâm lí, nhà tâm lí học X.Rubinstein (dẫn theo Đavƣđov V., 2000) cho rằng, tƣ duy là sự thể hiện lại trong ý nghĩ của chủ thể về hiện thực khách quan ở cấp độ chi tiết hơn, bao quát nhiều phƣơng diện hơn so với những tƣ liệu mà tri giác mang lại từ sự tác động của khách thể.N (1970) lại có quan điểm, tƣ duy là một quá trình tâm lý gắn bó mật thiết với ngôn ngữ. Đó là quá trình đi tìm cái bản chất, cốt lõi một cách sáng tạo, cũng là quá trình phản ánh mỗi phần hoặc khái quát thực tế nhờ các thao tác trí tuệ phân tích và tổng hợp. Tƣ duy nảy sinh từ những hoạt động thực tế hàng ngày, từ sự tri giác hiện thực khách quan và tiến xa khỏi những phạm vi của sự tri giác.
Tƣ duy con ngƣời không bất biến, ngƣợc lại tƣ duy luôn biến đổi trong suốt quá trình hoạt động cá nhân, theo những trải nghiệm của mỗi ngƣời, đồng thời chịu sự tác động từ những đổi thay và sự phát triển của xã hội. Đó là quá trình luôn vận động, không ngừng bổ sung, tìm tòi sáng tạo và vận dụng những kết quả của sự phản ánh đó làm cơ sở để giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra. Đặc điểm tư duy Con ngƣời là chủ thể của tƣ duy. Tƣ duy của con ngƣời có những đặc trƣng sau: - Tính có vấn đề của tƣ duy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tình huống có vấn đề là điều kiện để khởi phát tƣ duy.
Đó là những vấn đề mới mà các phƣơng thức cũ hoặc phƣơng pháp hoạt động đã có không giải quyết đƣợc. Tình huống có vấn đề là điều kiện cần, song chƣa đủ nếu hoàn cảnh đó không đƣợc cá nhân nhận thức đƣợc đầy đủ và có mong muốn giải quyết. Khi ấy, tình huống có vấn đề sẽ thôi thúc cá nhân suy nghĩ, và trở thành nhiệm vụ tƣ duy cá nhân. - Tính gián tiếp của tƣ duy Mỗi cá nhân thể hiện tƣ duy qua ngôn ngữ.
Các sự vật, hiện tƣợng, quy luật, mối quan hệ không đƣợc thể hiện trực tiếp trong tƣ duy mà đƣợc gọi tên, diễn đạt bằng các từ, ngữ. Thông qua kinh nghiệm, phát hiện, tìm tòi của những ngƣời khác, chúng ta hiểu thêm về các hiện tƣợng, sự vật, quy luật trong thực tế mà ta không thể trực tiếp tri giác đƣợc. - Tính trừu tƣợng và khái quát của tƣ duy Tƣ duy có khả năng bóc tách phần trừu tƣợng ra khỏi các sự vật, hiện tƣợng và giữ lại các thuộc tính bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật, hiện tƣợng riêng lẻ. Từ đó, khái quát lại để quy chúng vào các nhóm, các phạm trù.
- Tƣ duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Tƣ duy con ngƣời lấy ngôn ngữ để thể hiện các quá trình và kết quả của chính nó, vậy nên tƣ duy không thể tách rời ngôn ngữ. Dù vậy, tƣ duy thống nhất nhƣng không đồng nhất với ngôn ngữ. - Tƣ duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính Tƣ duy và nhận thức cảm tính có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau. Tƣ duy đƣợc thực hiện dựa trên những tƣ liệu nhận thức cảm tính (việc sử dụng các giác quan để nhận biết, nắm bắt sự vật, hiện tƣợng) đem lại.
Một mặt, bằng hình thức trực quan, thực tiễn chính là phƣơng tiện để kiểm chứng kết quả của tƣ duy. Mặt khác, việc nắm bắt các sự vật, hiện tƣợng trong thực tế khách quan chịu sự chi phối từ kết quả của tƣ duy. [32] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các giai đoạn hoạt động của tư duy Tƣ duy của con ngƣời nảy sinh để giải quyết một vấn đề nào đó xuất hiện trong cuộc sống thƣờng ngày.
Tƣ duy là một hoạt động trí tuệ gồm năm giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Nhận thấy, chỉ ra và diễn đạt vấn đề; Giai đoạn 2: Liên hệ các tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm có liên quan; Giai đoạn 3: Chọn lọc các khả năng và xây dựng giả thuyết; Giai đoạn 4: Xác nhận tính đúng đắn của giả thuyết; Giai đoạn 5: Thực hiện yêu cầu đề ra. Các thao tác trí tuệ Các thao tác trí tuệ phản ánh những quy luật bên trong của tƣ duy. Có các thao tác trí tuệ sau: - Phân tích và tổng hợp Phân tích là chia tách (bằng tƣởng tƣợng) một sự vật, hiện tƣợng thành các yếu tố riêng lẻ.