MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển (Nghị quyết Trung ƣơng 4 khóa VII và Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII). Chính bởi những lẽ đó, khi triển khai các đƣờng lối chủ trƣơng của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc thành các nhiệm vụ kế hoạch, ngoài những khoản chi ngân sách thƣờng xuyên, Chính phủ còn xây dựng các chƣơng trình mục tiêu cho các tiểu ngành thuộc hệ thống giáo dục quốc dân để trong một khoảng thời gian nhất định, ta có thể đạt đƣợc những kết quả, những mục tiêu cụ thể. Thí dụ nhƣ chƣơng trình xóa mù chữ - phổ cập giáo dục, chƣơng trình phát triển các trƣờng dân tộc nội trú, chƣơng trình nâng cấp các trƣờng sƣ phạm.
Bên cạnh các chƣơng trình, thực chất là dự án, sử dụng nguồn vốn trong nƣớc, từ những năm 1980, với sự hỗ trợ của UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc), UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc) ta đã thực hiện nhiều dự án giáo dục với quy mô vừa hoặc quy mô nhỏ, nhƣ các dự án về dạy lớp ghép cho vùng sâu vùng xa, dự án phát triển các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hƣớng nghiệp, dự án nghiên cứu tổng thể ngành giáo dục. Từ năm 1990 đến nay, với sự tham gia hỗ trợ của các tổ chức tài chính lớn nhƣ WB (Ngân hàng Thế giới), ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á), các nhà tài trợ song phƣơng hùng mạnh nhƣ JICA (Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản), DFID (Cơ quan phát triển quốc tế Anh), EU (Liên minh Châu Âu). các dự án dành cho giáo dục ngày một gia tăng. Công tác lập kế hoạch đang rất đƣợc chú trọng trong thời gian gần đây ở các cơ quan, tổ chức đặc biệt là trong hoạt động của các Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của nƣớc ngoài để triển khai.
Lập kế hoạch tốt cho phép hoàn thành các mục tiêu đề ra và thực hiện Dự án thành công. Do đặc điểm của Dự án hoạt động trong khoảng thời gian tƣơng đối ngắn (trung bình khoảng 6 – 8 năm) vì vậy việc lập kế hoạch hoạt động của Dự án có tầm quan trọng để đảm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo dự án đƣợc triển khai đúng tiến độ, đúng kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay Ngân hàng Phát triển Châu Á” với mong muốn phân tích những điểm mạnh và yếu trong công tác lập kế hoạch các thành phần của dự án qua trƣờng hợp cụ thể là Dự án Phát triển giáo dục THPT – Dự án đƣợc Nhà tài trợ (Ngân hàng Phát triển châu Á – ADB) ghi nhận trong nhiều Biên bản ghi nhớ trong các chuyến đánh giá thƣờng kỳ là Dự án hoạt động hiệu quả nhất trong số các Dự án giáo dục hiện nay, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác xây dựng kế hoạch các thành phần không chỉ nhằm góp phần hoàn thành tốt các mục tiêu của Dự án mà còn cung cấp nguồn thông tin tham khảo cho các dự án cũng nhƣ những hoạt động giáo dục khác đƣợc tổ chức theo mô hình dự án. Đề tài này cũng phù hợp với chuyên ngành mà tác giả đang theo học và có nội dung liên quan chặt chẽ đến công việc hàng ngày tại Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận của việc lập kế hoạch, khảo sát thực tế về Dự án giáo dục, mục tiêu Dự án, lập kế hoạch hoạt động và thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động các thành phần của Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông, đề xuất một số biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần nhằm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay Ngân hàng Phát triển Châu Á. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận Khảo sát thực trạng việc xây dựng kế hoạch hoạt động các thành phần của Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề xuất các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành đảm bảo tính khả thi và hiệu quả nhằm hoàn thành các mục tiêu của một số Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á. Khách thể và đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án.
Khách thể nghiên cứu: Quá trình xây dựng kế hoạch thực hiện các thành phần của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á. Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động xây dựng kế hoạch thực hiện các thành phần trong khuôn khổ Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông. Giả thuyết khoa học : Việc lập kế hoạch các thành phần của dự án chỉ đƣợc thực hiện khi dự án trở thành khả thi. Việc lập kế hoạch của Dự án nói chung và các thành phần của Dự án có tính quyết định đảm bảo tiến độ và thực hiện đúng mục tiêu của Dự án.
Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần đảm bảo tính khả thi và hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án. Phương pháp nghiên cứu : Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn Phƣơng pháp chuyên gia Điều tra thống kê. Cấu trúc luận văn Chƣơng I : Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chƣơng II : Thực trạng việc xây dựng kế hoạch hoạt động các thành phần của Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng III : Các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần nhằm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á.
Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vài nét tổng quan vấn đề nghiên cứu Việt Nam đƣợc công nhận là thành viên chính thức của ADB vào năm 1976. Từ cuối năm 1993, tài trợ của ADB cho Việt Nam mới bắt đầu đƣợc thực hiện với quy mô lớn và trên diện rộng.
Từ khi nối lại các hoạt động tại Việt Nam vào năm 1993, tính đến cuối năm 2008 ADB đã phê duyệt 78 dự án vốn vay cho khu vực công với tổng số vốn là trên 6 tỷ USD, 225 dự án hỗ trợ kĩ thuật (khoảng 175 triệu USD); 23 dự án viện trợ không hoàn lại với giá trị 135,6 triệu USD. Bên cạnh đó, ADB đã cung cấp 220 triệu USD cho 8 dự án vốn vay và 60 triệu USD bảo lãnh cho 2 dự án khu vực tƣ nhân. Việt Nam là một trong những nƣớc nhận hỗ trợ ADF (Quỹ hỗ trợ phát triển Châu Á) nhiều nhất. Với sự nỗ lực của cả ADB và Việt Nam, các chƣơng trình, dự án do ADB tài trợ đang đóng góp có hiệu quả cho nỗ lực của Chính phủ và nhân dân trong phát triển kinh tế và xã hội nói chung và phát triển giáo dục nói riêng.
Đề tài nghiên cứu về quản lý các Dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục còn khá mới mẻ. Một số nghiên cứu đã thực hiện ví dụ nhƣ : Đề tài “Những biện pháp nâng cao năng lực quản lý thực hiện Dự án đào tạo giáo viên Trung học cơ sở sử dụng nguồn vốn Ngân hàng Phát triển Châu Á” của tác giả Nguyễn Thị Hồng ; Đề tài “Biện pháp quản lý các Dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trƣờng ĐH Giao thông vận tải trong giai đoạn hiện nay”, song chƣa có một nghiên cứu nào cụ thể cho lĩnh vực xây dựng kế hoạch các thành phần nhằm hoàn thành các mục tiêu của các Dự án giáo dục sử dụng vốn vay nƣớc ngoài. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm về quản lý 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có lao động chung của nhiều ngƣời, cùng theo đuổi một mục đích.
Quản lý là dạng hoat động đặc thù của con ngƣời và là một thuộc tính có trong xã hội ở bất kì trình độ phát triển nào. Kể từ xã hội nguyên thủy, lao động chung nhiều ngƣời là săn bắt, hái lƣợm, đã cần có sự quản lý, cho đến nền kinh tế tri thức vẫn cần phải có sự quản lý. Khi xã hội phát triển, lao động quản lý tách khỏi lao động trực tiếp và trở thành nghề quản lý. Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra khái niệm quản lý theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo Karl Mark: “Bất cứ một lao động mang tính xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, đƣợc thực hiện ở quy mô tƣơng đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Mọi ngƣời chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần ngƣời chỉ huy” [26, tr.Taylor, ngƣời đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phƣơng tiện lao động nhằm tăng năng suât lao động thì: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”. Theo Henry Fayol: “Hoạt động quản lý gồm 4 chức năng chính là: a) Lập kế hoạch cho tƣơng lai và sắp xếp lên kế hoạch. b) Tổ chức chuẩn bị vật tƣ, trang thiết bị và bố trí lao động cho công việc.
c) Thống nhất và phối hợp các hoạt động. d) Kiểm tra để xác định mọi hoạt động có đƣợc thực hiện theo đúng nguyên tắc đã đƣợc đặt ra và những quan điểm đã đƣợc ban hành [34, tr. 34] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.