Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nhằm hỗ trợ cho công cuộc cải cách nền kinh tế và xã hội của Việt Nam phát triển và phát triển bền vững, cộng đồng các nhà tài trợ Quốc tế đã cam kết tài trợ hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam thông qua các chƣơng trình, dự án tín dụng, viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật. Trong số các nhà tài trợ cung cấp ODA cho Việt Nam thì Nhật bản, Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) là 3 nhà tài trợ lớn nhất. Tổng số vốn cam kết của 3 nhà tài trợ này chiếm trên 70% tổng số vốn ODA của các nhà tài trợ cho Việt Nam.
Trong những năm gần đây, có nhiều văn bản của Nhà nƣớc, của các nhà Khoa học, các nhà quản lý thuộc Bộ ngành đã đầu tƣ nghiên cứu và xây dựng các quy trình quản lý thực hiện dự án. Trong số đó đáng kể là các văn bản nhƣ : - Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính Phủ ban hành quy chế Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ; 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thông tƣ số 06/2001/TT-BKH ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ hƣớng dẫn thực hiện qui chế quản lý sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ; - Quyết định số 112/2001/QĐ-BTC do Bộ Tài chính ban hành này 09/11/2001 về việc ban hành một số định mức chi tiêu áp dụng cho các Dự án có sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vay nợ; - Sổ tay hƣớng dẫn các vấn đề tài chính trong dự án hỗ trợ phát triển chính thức tại Việt Nam do Bộ Tài chính và Ngân hàng Phát triển Châu Á xây dựng ; - Sổ tay hỗ trợ thực hiện dự án do ADB tài trợ tại Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ cùng ADB xây dựng Việt Nam đƣợc công nhận là thành viên chính thức của ADB vào năm 1976. Từ cuối năm 1993, tài trợ của ADB cho Việt Nam mới bắt đầu đƣợc thực hiện với quy mô lớn và trên diện rộng. Tính đến tháng 12/2001, ADB đã phê duyệt 34 khoản vay cho khu vực công cộng với tổng số vốn là 2,2 tỷ USD, 3 dự án đầu tƣ cho khu vực tƣ nhân với tổng số vốn là 72 triệu USD và 117 dự án hỗ trợ kỹ thuật với tổng số vốn viện trợ không hoàn lại là 82 triệu USD.
Với sự nỗ lực của cả ADB và Việt Nam, các chƣơng trình, dự án do ADB tài trợ đang đóng góp có hiệu quả cho nỗ lực của Chính phủ và Nhân dân trong phát triển kinh tế và xã hội nói chung và phát triển giáo dục nói riêng. Các dự án đƣợc đề xuất phải xuất phát từ những mục tiêu phát triển tổng quát và phải đƣợc đặt trong bối cảnh của các mục tiêu đó. Các mục tiêu này có thể đƣợc nêu rõ trong văn kiện kế hoạch của Chính phủ hoặc trong chƣơng trình đầu tƣ của Nhà nƣớc. Các mục tiêu này sẽ tạo nên cơ sở của Nghiên cứu chiến lƣợc hoạt động quốc gia.
Vì dự án đƣợc thực hiện trong điều kiện kinh tế vĩ mô và bối cảnh cụ thể, nên một Dự án đầu tƣ có thể đƣợc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com coi nhƣ là một sự thay đổi tăng dần về một cơ cấu hiện đang tồn tại. Chẳng hạn nhƣ Dự án Đào tạo giáo viên THCS ra đời đƣợc cũng bắt đầu từ những bất cập về trình độ CBGD, về cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trƣờng cao đẳng sƣ phạm, từ chƣơng trình và giáo trình, về công tác quản lý, công tác đào tạo giáo viên THCS. Trong thời gian qua tuy có đƣợc nâng cao nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc những yêu cầu đổi mới của chƣơng trình THCS, nhất là khi chúng ta tiến hành đổi mới chƣơng trình này với những thay đổi lớn về mục tiêu, kế hoạch dạy học, nội dung và phƣơng pháp dạy học. Điều đó đòi hỏi một sự đầu tƣ lớn để nâng cao chất lƣợng và năng lực đào tạo của cả hệ thống sƣ phạm thông qua việc nâng cao trình độ đội ngũ CBGD, trang bị thêm các thiết bị, thí nghiệm, thƣ viện.
Các khái niệm cơ bản về quản lý 1. Quản lý Trong lịch sử phát triển xã hội, từ xa xƣa con ngƣời đã biết hợp sức với nhau để tự vệ và kiếm sống, từ đó đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù có tổ chức, phối hợp, điều khiển các hoạt dộng theo những yêu cầu và mục tiêu chung. Dạng lao động đặc thù đó đƣợc gọi là hoạt động quản lý. Marx, bất cứ lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung nếu đƣợc thực hiện trên một quy mô lớn thì ít nhiều đều cần đến sự quản lý.
Vậy lao động xã hội gắn liền với quản lý. Quản lý là một hoạt động đặc biệt, nó điều khiển các hoạt động chung khi xã hội có sự phân công lao động, hoạt động quản lý ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển không ngừng của xã hội. Tuỳ theo những cách tiếp cận, thuật ngữ “quản lý” đƣợc các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: - “Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung” (33,tr. - ”Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục đích dự kiến” (15, tr.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng‟‟ (11, tr. - Hoặc “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” (10, tr. Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu khái niệm quản lý như sau: Quản lý luôn có tính hướng đích: Có mục tiêu, có tổ chức và các tác động tƣơng ứng, phù hợp để hƣớng dẫn điều khiển đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc những mục tiêu định sẵn. Quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống, hệ thống đó bao gồm: Chủ thể quản lý; Khách thể quản lý; Cơ chế quản lý; Công cụ quản lý; Mục tiêu quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật: Nó giúp nhà quản lý biết khai thác, sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu với hiệu quả cao và chi phí thấp nhất.
Khoa học và nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, khoa học càng tiến bộ thì nghệ thuật càng phát triển hoàn thiện và ngƣợc lại khi nghệ thuật phát triển cao sẽ thúc đẩy khoa học phát triển. Quản lý tạo ra mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa chủ thể quản lý với khách thể quản lý và mục tiêu cần đạt. Nói một cách tổng quát: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” (19, tr. Quá trình tác động này được thể hiện qua sơ đồ sau: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CÔNG CỤ CHỦ THỂ KHÁCH THỂ MỤC TIÊU QUẢN LÝ QUẢN LÝ PHƢƠNG PHÁP SƠ ĐỒ 1: Quan hệ chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý Tóm lại, quản lý là sự tác động có hƣớng đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý thông qua các phƣơng pháp quản lý, công cụ quản lý, nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng), để đạt đƣợc những mục tiêu đã xác định trong điều kiện môi trƣờng biến động.
Ngày nay, quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con ngƣời, đến toàn xã hội nhằm tổ chức và phối hợp các hoạt động, động viên kích thích tập thể lao động, công tác, học tập, bảo vệ tổ quốc, làm cho dân giàu nƣớc mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đối tượng quản lý Yêu cầu của một khoa học là có đối tƣợng nghiên cứu và có hệ thống các phƣơng pháp nghiên cứu riêng biệt. Quản lý đƣợc gọi là một khoa học vì nó có đối tƣợng nghiên cứu, các hệ quản lý đƣợc vận hành trong tiến trình giải quyết các nhiệm vụ quản lý. Quản lý có cả một hệ phƣơng pháp nghiên cứu riêng và phục vụ những yêu cầu cụ thể của thực tiễn.
Tuy nhiên đối tƣợng của hoạt động quản lý chính là các bộ phận cấu thành của một tổ chức và hoạt động của hệ thống. Quản lý tác động lên con ngƣời trong tổ chức, nên mọi hoạt động của tổ chức và cả điều kiện cơ sở vật 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất để hệ vận động. Có thể nói rằng „các hoạt động, các quan hệ „ quản lý là đối tƣợng trực tiếp của quản lý. Đối tƣợng trực tiếp của quản lý là ngƣời dƣới quyền.
Ngƣời lãnh đạo phải hiểu đƣợc mọi khả năng, nguyện vọng của cấp dƣới để quản lý. Ngƣời quản lý phải “biết nhìn xa, trông rộng, có tính quyết đoán và có sự kiên trì, điềm đạm”, các mệnh lệnh, chỉ thị đề ra phải đảm bảo ngắn gọn, rõ ràng, chính xác phù hợp với nhiệm vụ, tạo bầu không khí tâm lý tích cực của mọi ngƣời trong công tác quản lý. Bản chất và chức năng quản lý Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu quản lý, nói cách khác, bản chất của quản lý là sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân trong tổ chức thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý.